Đầu năm 1970 đang dạy học ở
Vĩnh Long, tôi nhận được “Sự vụ lệnh” thuyên chuyển lên dạy tại trường Nam
trung học Trần Hưng Đạo, Đà Lạt. Cầm sự vụ lệnh trong tay tôi vừa vui, vừa buồn.
Vui vì thực hiện được điều mình mong muốn, ấp ủ từ lâu nhưng cũng buồn vì phải
xa Vĩnh Long, bỏ lại đàng sau lưng ngôi trường Tống Phước Hiệp và bao nhiêu học
sinh hiền hoà, ngoan ngoãn của tôi.
Thời gian gần ba năm tuy ngắn
nhưng tình cảm cô trò thật tràn đầy, cả cô lẫn trò khi chia tay đều nước mắt ngắn,
nước mắt dài. Biết là mình được cảm tình với các em, nhưng tôi không bao giờ ngờ
được là các em lại quý mến tôi đến như vậy, lòng tôi mềm và chùng xuống vì những
giọt nước mắt của các em.
Cũng tại Đà Lạt, tôi được
gia đình gởi cho một bài báo của một em học sinh Tống Phước Hiệp viết tặng cô
Lê-Thân Hồng-Khanh, đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, tiếp đó một bạn đồng nghiệp
tại Trần Hưng Đạo cũng tặng cho tôi tờ báo này. Bài viết nói lên nỗi niềm nhung
nhớ, thương yêu của em dành cho tôi. Thật là hãnh diện và cảm động biết bao
nhiêu, đó cũng là phần thưởng cho những nhà giáo tận tâm và thương yêu học trò
của mình. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của em là gì vì em dùng bút
hiệu mà tôi cũng không nhớ, nhân đây tôi cũng gởi lời cám ơn em, bài viết của
em là món quà vô giá đối với tôi, đến nay tuy gần nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn
cảm động khi nghĩ đến.
Đà Lạt đón tôi trong không
khí mát lạnh cùng tiếng thông reo vi vu, trước khi vào thành phố, xe chạy qua một
khúc đường đèo thật đẹp với những rừng thông trải dài cả hai bên đường, bên phải
là núi, bên trái là thung lũng thấp hơn mặt đường. Qua khỏi thác Prenn chẳng
bao xa đã vào trung tâm thành phố. Xe Minh Trung có bãi đậu gần chợ Hoà Bình,
đây là loại xe đò nhỏ chỉ có khoảng 12 chỗ ngồi, tiện nghi và nhanh chóng hơn
những xe đò lớn vì không phải đón khách ở dọc đường. Tuy vậy, quãng đường
Saigon-Đà Lạt dù chỉ khoảng 300km mà bao giờ cũng cần đến sáu bẩy tiếng đồng hồ,
đường xấu, sau này có những quãng hư hỏng, chẳng được tu sửa hoặc bảo trì
nên xe không thể nào chạy nhanh hơn được.
Trong giai đoạn đầu, một người
chị họ là Hiệu trưởng trường Bùi Thị Xuân cho tôi tạm trú tại nhà của chị trong
cư xá. Cư Xá Bùi Thị Xuân lúc bấy giờ nằm ở phía bên phải của trường, trên khoảng
đất rộng nơi góc của hai con đường Võ Tánh và Phù Đổng Thiên Vương, rất tiện
cho việc đến Viện Đại Học Đà Lạt vì chỉ cần vài phút đi bộ nhưng hàng ngày đi dạy
tại trường Trần Hưng Đạo thì lại bất tiện vì rất xa. Một người như tôi,
không đi xe đạp hoặc xe gắn máy, chỉ có hai cách, hoặc là đi bộ hoặc đi xe xích
lô máy. Kiếm được xích lô máy ở nơi tương đối vắng vẻ này không phải chuyện dễ,
phải đi bộ xuống gần chợ Hoà Bình, như vậy cũng đã mất gần nửa quãng đường, đó
là chưa kể đến phí tổn về tiền xe. Đi bộ mất cả tiếng đồng hồ, nếu dạy những giờ
đầu chắc chắn là phải dậy thật sớm để sửa soạn và ra đi lúc trời mới hừng đông.
Bây giờ biết phải tính sao…, may quá trong cư xá cũng có nhiều em học trường Trần
Hưng Đạo, các em tình nguyện dẫn tôi đi đường tắt để đến trường và chỉ cần chừng
ba chục phút đi bộ…. Mỗi sáng nếu tôi có giờ dạy đầu, mở cửa đi ra thì đã
thấy các em, học trò đệ thất, đệ lục đứng đợi sẵn để cùng đi. Tôi vui vì có bạn
đồng hành, các em thì hãnh diện vì được đi cùng với cô giáo, nói theo bây giờ
thì đó là một việc làm “win win”, không đem lợi nhuận cho cả hai phía như trong
thương trường nhưng đem lại niềm vui cho cả cô lẫn trò!.
Muốn đi đường tắt phải lội
qua vườn của những người sống bằng nghề trồng rau củ nằm dưới thung lũng, cô
trò chúng tôi đi men theo những bờ vườn hẹp toàn là đất đỏ, cao hơn mặt vườn chừng
nửa thước, ngang qua những vườn trồng rau sà lách, cà rốt, bắp cải, bông cải,
ác ti sô, đậu ve, đôi khi cũng có vườn trồng cả dâu tây, các cậu học trò nhỏ
láu lỉnh trên đường đi học về giả vờ ngã lăn xuống vườn dâu đầy trái chín đỏ để
hái trộm hoặc thưởng thức vài trái mà không bị nhà vườn bắt, đúng là “nhất quỷ,
nhì ma, thứ ba học trò”. Thật là thơ mộng khi trời hơi giăng sương mù, mờ mờ, ảo
ảo, hơi lạnh thấm vào người mặc dù đã mặc đủ áo ấm, cô đi trước, trò theo sau,
vừa đi vừa suýt soa, cả cô lẫn trò đều lạnh.
Chỉ khi nào trời mưa hoặc đường
đất còn đẫm nước thì thật là khổ, đất đỏ vừa mềm vừa nhão bám vào giầy, vào quần
vào áo dài. Cô giáo vào lớp mà nhem nhuốc nhưng biết làm sao hơn. Lấy kinh nghiệm,
trong khoảng thời gian đó tôi chỉ mặc toàn quần đen mà chẳng khi nào dám diện
quần trắng.
Trường nam Trung học Trần
Hưng Đạo nằm trên một ngọn đồi, xa thành phố, thơ mộng với những hàng thông bọc
quanh, cạnh trường bên phải là hồ Vạn Kiếp, khi tôi đến thì đó chỉ là một hồ nhỏ
đã cạn gần hết nước nhưng theo lời kể, trước đây là một trong những hồ lớn và đẹp
ở Đà Lạt chẳng khác gì hồ Than Thở hoặc hồ Xuân Hương. Nhưng rồi với thời gian,
đúng như ông cha ngày xưa đã nói “thương hải biến vi tang điền”, hồ từ từ thu hẹp
dần, mới đây tôi được biết hồ Vạn Kiếp đã không còn nữa mà thay vào đó là những
mảnh vườn đang được canh tác.
Bên trái của trường, cách một đường đi là những biệt thự nhỏ, xinh xắn, kiến trúc theo kiểu Tây Phương, có lẽ ngày xưa dành cho nhân viên người Pháp vì thời đó trường Trần Hưng Đạo là nhà nghỉ mát của quân đội Pháp, nay mới thuộc sở hữu của trường. Trường nằm xa thành phố, vắng vẻ, đêm tối mất an ninh nên dù dùng làm cư xá cho giáo sư, chẳng ai dám ở, ngoài gia đình bác cai trường, sau này bắt đầu có một hai đồng nghiệp chọn những căn nhà ít hư hỏng, ít phải tu sửa để ở, nhà bỏ trống cả mấy chục năm nên hư hại nhiều. Tôi còn nhớ có chị bạn đồng nghiệp ở cùng với cô cháu gái đang học trường Quốc gia Sư Phạm, chỉ có hai dì cháu, “liễu yếu đào tơ” mà dám nhận một villa nên ai cũng nể, sau này hỏi ra mới biết là cả hai dì cháu đều rất giỏi võ Bình Định.
Bên trái của trường, cách một đường đi là những biệt thự nhỏ, xinh xắn, kiến trúc theo kiểu Tây Phương, có lẽ ngày xưa dành cho nhân viên người Pháp vì thời đó trường Trần Hưng Đạo là nhà nghỉ mát của quân đội Pháp, nay mới thuộc sở hữu của trường. Trường nằm xa thành phố, vắng vẻ, đêm tối mất an ninh nên dù dùng làm cư xá cho giáo sư, chẳng ai dám ở, ngoài gia đình bác cai trường, sau này bắt đầu có một hai đồng nghiệp chọn những căn nhà ít hư hỏng, ít phải tu sửa để ở, nhà bỏ trống cả mấy chục năm nên hư hại nhiều. Tôi còn nhớ có chị bạn đồng nghiệp ở cùng với cô cháu gái đang học trường Quốc gia Sư Phạm, chỉ có hai dì cháu, “liễu yếu đào tơ” mà dám nhận một villa nên ai cũng nể, sau này hỏi ra mới biết là cả hai dì cháu đều rất giỏi võ Bình Định.
Trường nằm trên ngọn đồi cao
nên muốn vào trường phải đi mấy chục bậc thang thẳng dốc, sáng nào cũng vậy,
ngoài việc đi bộ, tôi còn phải leo bao nhiêu bậc tam cấp nên cũng nhờ đó mà sức
khoẻ của tôi rất tốt, đúng tiêu chuẩn vận động lý tưởng của ngày nay!
Ngẫm lại tôi thấy đường đời
của tôi thực sự là không bằng phẳng, lúc nào cũng phải tranh đấu, phải bỏ nhiều
công sức, phải leo dốc cực nhọc rồi mới đạt được mục đích, nếu không thì tại
sao tôi lại phải leo hết dốc Trần Hưng Đạo đến dốc đại học Victoria ở
Wellington lộng gió, xứ sở của Kiwi!.
Hai niên khoá đầu, trường
phân công cho tôi phụ trách các lớp đệ thất (lớp 6), nam sinh nhỏ thuộc lứa tuổi
11, 12. Lớp học quá đông, có lớp tới 70 chục em, hỗn độn, nhốn nháo. Tôi quen dạy
học trò lớn, ngoan, hiền nên thoạt đầu tôi bị shock, nhưng rồi tôi cũng có cách
để đưa các cậu học trò nhỏ này vào kỷ luật. Nếu các em học sinh của tôi ở Tống
Phước Hiệp thấy tôi lúc đó chắc phải giật mình, cô giáo dịu dàng, nhẹ nhàng
ngày xưa, nay trở thành một bà giáo sát khí đằng đằng, đi lên, đi xuống, trong
tay lúc nào cũng cầm một cây thước kẻ dài, cậu bé nào lộn xộn là sẽ bị khẻ tay,
nếu nghịch quá thì bị quỳ tại chỗ. Thời ấy, đó là những hình phạt nhẹ mà ban
giám hiệu cũng như phụ huynh học sinh không ai phản đối hoặc ta thán gì cả.
Ngày nay nghĩ lại thấy mình đã phạm vào việc hành hạ và hạ thấp nhân phẩm của
trẻ em, ở Tây Phương là sẽ bị đuổi việc và bị đưa ra toà ngay. Tôi tự hỏi, một
nhà giáo Tây Phương phải phụ trách một lớp với 70 học sinh nhỏ nhốn nháo như
cái chợ vỡ thì họ phải đối phó ra sao để mà có thể giảng dạy được. Thông thường
họ chỉ phải phụ trách mỗi lớp chừng 15 em học sinh, vậy mà họ vẫn than phiền là
lớp học quá đông.
Ngày nào đi dạy về tôi cũng
bị khan tiếng, phải nói to, phải la thật lớn “silent, please!” không biết mấy
trăm lần để giữ im lặng trong lớp mà giảng bài. Tuy cực nhọc để chăn đám con
nít nhốn nháo nhưng không vì vậy mà sự giảng dạy cũng như sự tận tâm nghề nghiệp
của tôi bị giảm đi. Nhìn những em học sinh nhỏ của mình mặc những chiếc áo len
bạc màu, rách nát, chân đi đôi “săng đan” tơi tả hoặc đôi dép Nhật trong tiết
trời lạnh lẽo, tôi thấy buồn thấm thía. Có hôm, đang giảng bài, có em bị ngất xỉu,
sau khi đưa lên bệnh xá và han hỏi, em ngập ngừng nói là em không có bệnh gì cả,
ngất đi chỉ vì quá đói. Trời lạnh, phải đi bộ năm, ba cây số đến trường, quần
áo không đủ ấm mà trong bụng không có một chút gì thì làm sao mà chịu nổi. Có
những em con nhà vườn, cha mẹ không bán được rau củ đã gặt hái, nhiều khi phải
ăn rau, ăn cà rốt luộc trừ cơm. Ôi thân phận nghèo dưới chính thể nào cũng vậy,
luôn luôn phải chịu thiệt thòi, bất hạnh…
Sau khi hoàn tất niên khoá đầu
tiên, tôi trở về Saigon nghỉ ngơi, sống cùng cha mẹ và các anh chị em, thỉnh
thoảng cũng phải ngắt quãng vì được cử đi gác thi ở các tỉnh. Ba tháng hè trôi
qua, tôi trở lên Đà Lạt, lần này tôi đổi chỗ ở để tiện cho việc di chuyển đến
trường. Tôi từ giã cư xá Bùi Thị Xuân để về ở nhà cậu mợ Tân, người quen của ba
mẹ tôi. Cậu Tân là nhân viên của Ty Công Chánh nên cậu mợ ở tại cư xá Công
Chánh nằm trên đường Hai Bà Trưng. Từ đây tôi có thể đi bộ đến trường bằng đường
chính và cũng chỉ mất chừng nửa tiếng như đi đường tắt ở cư xá Bùi Thị Xuân.
Thêm vào đó cậu mợ có hai em Ân, Ái là học trò đệ ngũ và đệ lục của trường Trần
Hưng Đạo. Ái thích đi xe đạp, Ân đi xe Honda nên nếu trùng giờ tôi có thể quá
giang xe của Ân nên cũng tiện cho tôi hơn. Mợ Tân rất đảm đang, nhà của mợ
thật gọn ghẽ, ngăn nắp và sạch như ly như lau. Mợ lại nấu ăn thật ngon nên ở với
gia đình cậu mợ, tôi cảm thấy thoải mái, Phương Lan, con gái đầu của mợ, xinh đẹp,
hai má đỏ hồng, học sinh Bùi Thị Xuân, kế đó là Đôn học trường tư, Ân và Ái, học
sinh Trần Hưng Đạo, Cẩm Tú, con gái út, còn nhỏ và đang học tiểu học.
Đôn và tôi ở trên gác nhỏ, mỗi
người một cái giường , phòng có cửa sổ, nhìn ra đường Hai Bà Trưng, gác tuy nhỏ
nhưng đầy đủ tiện nghi và ấm cúng, đủ chỗ dành cho hai chị em. Cũng chính ở căn
gác này, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã tạm trú một thời gian khi là giáo sư của
trường Trần Hưng Đạo, sau đó đã viết quyển tiểu thuyết táo bạo “Vòng tay học
trò” mà tôi cũng từng mong đợi hàng tuần để được đọc trên báo khi còn là nữ
sinh lớp đệ tam của trường Gia Long, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng là cháu của cậu
Tân.
Mặc dù chỉ là bạn của ba mẹ
tôi nhưng những tháng ngày sống chung với cậu mợ và các em đã làm cho tôi có cảm
tưởng cậu mợ là bà con ruột thịt, mối liên lạc với gia đình cậu mợ đến nay vẫn
còn tiếp tục. Cậu đã mất từ lâu, em Đôn đã qua đời lúc còn rất trẻ, hiện nay mợ
và Cẩm Tú, con gái út vẫn ở trong căn nhà ngày xưa mặc dù mợ đã 90 tuổi, bệnh tật
và hoàn cảnh sống khó khăn.
Trong thời gian ở Đà Lạt nếu
không có giờ dạy, tôi vẫn thường cắp sách tới giảng đường của viện Đại Học Đà Lạt
để sống lại quãng đời sinh viên, trong vòng một năm rưỡi tôi hoàn tất ba chứng
chỉ cần thiết cho bằng Cử Nhân Anh Văn của tôi. Sau đó tôi được phân cho dạy những
lớp lớn, đệ tứ, đệ tam, bớt phải hò hét và cũng không còn phải áp dụng những
hình phạt khẻ tay hoặc bắt quỳ. Tôi cũng được phân cho dạy một lớp toàn các em
người Thượng, dân tộc thiểu số của vùng Đà Lạt, các em phần lớn đều nhiều tuổi
hơn các em cùng cấp người Việt nhưng rất hiền và ngoan, có khiếu về Anh ngữ và
có cách phát âm rất đúng mặc dù tiếng Việt vẫn còn ngọng nghịu.
Năm năm ở Đà Lạt đã để lại
trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm, thành phố nhiều cây xanh, nhiều hoa với những
buổi sáng giá lạnh đầy sương mù, những rừng thông, những con dốc, những đồi cỏ,
những cô gái má hây hây hồng, con đường tắt băng qua vườn, con đường hàng ngày
đi bộ đến trường đầy sỏi đá, ngang qua Mả Thánh với những bụi dã quỳ đầy hoa
vàng thắm còn lóng lánh sương đêm.
Trường Trần Hưng Đạo trên ngọn
đồi cao, những buổi sáng tinh mơ đầy sương muối trắng xoá bao phủ những bãi cỏ
cạnh hồ, những em học sinh nhỏ nhốn nháo, những em học sinh lớn chững chạc
trong bộ đồng phục quần tây xanh, áo sơ mi trắng, áo len màu xanh lam đậm.
Trường Đại Học Đà Lạt
với khuôn viên rộng rãi và đủ các loài hoa, những con đường hoa anh đào,
những hoa cúc trắng lung lay theo gió, những sinh viên nam nữ ăn mặc thật đẹp với
áo len, áo măng tô, áo ba đờ suy đủ màu, đủ kiểu, làm khách lạ cứ tưởng chừng
như lạc vào trong khuôn viên của các Đại Học Tây Phương. Đà Lạt vẫn còn mãi
trong tôi, dù rằng Đà Lạt ngày nay đã thay hình đổi dạng…
Những ngày đầu ở Đà lạt
(1971) tôi “tức cảnh thành thơ”, làm được bốn câu rồi không làm sao để tiếp tục,
thật là lạ, qua bao nhiêu năm tháng mà tôi vẫn chưa quên.
Kỳ về thăm lại Việt Nam vừa
qua (2013) tôi đã hoàn thành được bài thơ mà tôi đặt tựa đề là “Bài Thơ nối tiếp
Nhớ về Đà Lạt”, bài thơ được hoàn tất sau 42 năm, xin ghi lại dưới đây để gọi
là ”Một chút gì để nhớ, để thương” của một thời nơi xứ hoa đào thơ mộng.
BÀI THƠ NỐI TIẾP NHỚ VỀ ĐÀ LẠT
(1971-2013)
Trời Đà Lạt buồn rưng rưng
muốn khóc,
Cây rì rào, hoa lá hỏi thầm
nhau,
Cớ làm sao trời lại bỗng
dưng sầu,
Cho vạn vật phủ một màu ảm đạm.
Trời muốn khóc vì trời hay
làm dáng,
Gió vô tình làm rối tóc mây
bay,
Chợt thổi về thêm một thoáng
heo may,
Luồn trong tóc, kết thành
mây lãng đãng.
Cảnh vật trở mình bỗng nhiên
như bừng sáng,
Ánh mặt trời chiếu rạng cả
hư không,
Rặng thông reo theo gió toả
hương nồng,
Đồi cù đó, cỏ may hồng bát
ngát.
Mặt nước hồ sao vẫn còn man
mác,
Hàng anh đào, ôi ngơ ngác chờ
trông,
Bước chân theo những con dốc
chập chồng,
Tìm đâu được bao dư âm ngày
cũ.
Đà Lạt thuở xưa đã đi vào
huyền sử,
Đà Lạt bây giờ còn thoáng nhớ
ai không,
Gót chân son nay vướng bận bụi
trần,
Dừng bước lại vẫn âm thầm một
bóng.
Lê-Thân Hồng-Khanh - 2013
Toàn cảnh trường Trần Hưng Đạo
Cổng chính của trường Trần Hưng Đạo (1967,
nguồn Nguyễn hữu Quan)
Bài và ảnh Lê-Thân Hồng-Khanh - 2015












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét