Cuối năm, với sự kiện lần đầu tiên lễ hội văn
hóa trà của Việt Nam được tổ chức - Lễ hội Văn hóa trà Lâm Đồng 2006, người ta
có nhiều thứ để nói, để viết.
Còn tôi, lạ lùng thay, lại cứ thấy bảng lảng sương, bảng lảng hương - những thứ
xem ra khó nói và càng khó viết. Và tôi đã bắt gặp ở Cầu Đất thuộc vùng ven
thành phố Đà Lạt - nơi cội nguồn của cây chè Nam Tây Nguyên- một chiều bảng lảng
sương, hương...
Chiều buông rất khẽ với tơ vàng rơi hờ lên môi thôn nữ trên đồi chè Cầu Đất.
Chiều nhẹ tênh sắc tím vàng đậu vào những búp non tươi óng mượt trong bàn tay
sơn nữ dưới thung sâu.
Chiều chạm cửa tâm hồn người xứ sở trà Cao Nguyên như thể để đất trời quyện vào
nhau cho khói sương vương vấn hương chè và hương chè thoang thoảng mùi vị khói
sương.
Tôi muốn nói rằng, sương - sự hiện thân của khí trời, chính là điều kiện sống
còn của thứ cây cho hương vị vừa ngọt ngào và vừa pha lẫn đắng chát: cây chè. Xứ
sở Cầu Đất xưa là vùng đất chọn của những lưu dân miền Trung đến khai thiên lập
địa trên độ cao hơn một 1.600 mét.
Cuộc di dân của người Nam - Ngãi - Bình - Phú ấy diễn ra từ gần trăm năm trước.
Ngày xưa xa lắc ấy, không biết có phải ngẫu nhiên hay không mà lớp người đi tìm
đất mới lại chọn vùng đất nằm ở độ cao chót vót như thế để dừng chân và để mưu
sinh.
Vùng đất có cái tên hết sức dân dã Cầu Đất quanh năm mây phủ sương giăng. Người
ta bảo, Đà Lạt nằm ở độ cao 1.500 mét đôi khi sương bỗng mất hút; còn Cầu Đất
có thêm "một trăm mét cộng" nên sương mù luôn hiện hữu - kể cũng lạ
thay chuyện đất trời! Dĩ nhiên, sương Cầu Đất có tự nghìn nghìn năm trước.
Nhưng điều đáng nói ở đây là những lưu dân miền Trung thuở xa lơ xa lắc ấy
trong hành trình tìm đất mới đã chọn đúng chốn sương mù che phủ quanh năm này để
dừng chân. Ở nơi ấy có những địa danh nghe quá đỗi dân dã: Cầu Đất, Đất
Làng...; và tên người cũng mộc thô như đất: ông Năm Chè, ông Ba Sở Trà... Cầu Đất,
ấy là tên gọi chiếc cầu bắc ngang qua một con suối cạn được làm bằng đất (đến
nay vẫn còn), rồi dần dần thành tên gọi của cả làng.
Còn "Đất Làng" là nhằm để phân biệt khu đất của nhóm lưu dân lập làng
với "đất rừng" mông mênh chi địa bao quanh thuở ấy. Cũng như vậy, gọi
thô mộc "Năm Chè" nhằm để chỉ nhân vật nổi tiếng trong vùng nhờ nghề
trồng chè; gọi "ông Ba Sở Trà" cũng thế: ngày xưa, khi Sở Trà mới được
người Pháp lập ra, ông Ba là một trong những người Việt đầu tiên được vào làm
công trong Sở và là người "coi ngó" anh em công nhân.
Cây chè cứ thế lớn dần trong sương mù cùng với những ông "Năm Chè",
ông "Ba Sở Trà"... cả đời dầu dãi nắng mưa hôm sớm vun trồng. Sương cứ
thế hiện hữu với đời chè, đời người. Sương cứ thế hiện hữu với Cầu Đất, với Đất
Làng. Cứ thế một đời sương bảng lảng với bình minh Đất Làng và với hoàng hôn Cầu
Đất!
Cầu Đất chiều bảng lảng sương... Nơi ấy, dáng sơn nữ hiện ra trong sương chiều
bỗng lung linh, huyền ảo. Nơi ấy, những thiếu nữ miền Trung càng da thắm môi hồng
nhờ mây trắng quanh năm choàng phủ ru nôi.
Người ta bảo, thứ cây chè cho hương vị đắng ngọt kia nếu không có sương - hiện
thân của khí trời - thì sự biến hóa kỳ ảo của hương trà sẽ không có cơ hội để
thể hiện. Nói rằng thứ cây ấy biến hóa kỳ ảo bởi nhẽ: Vị đắng nguyên sơ sẽ
thành đắng ngọt khi búp chè được hít thở khói sương; cũng như thế, khi được
nuôi dưỡng bằng thứ khí trời trên độ cao rất cao (một ngàn sáu trăm mét), vị ngọt
chát vốn dĩ của hương trà sẽ trở nên nền nã dịu nồng hơn.
Và bởi lẽ đó nên khi chiều buông tơ trời trong sương giăng bảng lảng, bát nước
chè của thôn nữ miệt phố Cầu Đất - Đà Lạt bỗng nồng nàn hương vị trần thế.
Khắc Dũng



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét