Tản mạn đôi điều về tháng Chạp
Cái gì Đầu Tiên bao giờ cũng đáng quí, đáng nhớ, đáng gọi
thiêng liêng. Mối tình đầu tiên, bài thơ đầu tiên, bông hoa bói đầu tiên, đứa
con đầu tiên, món tiền lương đầu tiên... Nhưng còn cái Cuối Cùng thì sao? Một
đời người chẳng từng phải qua những cái cuối cùng của đời mình lo toan vật vã,
vui tươi hớn hở... nó đến tình cờ hay do sắp xếp, êm đềm hay tàn khốc... Phút
cuối cùng của con tàu sau chuyến tốc hành, ta phải rời toa. Cái ngày cuối cùng
của một tháng đen đủi, và tháng cuối cùng của một năm: Tháng Chạp, sau một năm
dằng dặc có gặt hái và thất bát, có nồng nàn và lạnh băng, có chua chát và ngọt
ngào...
Thử nghĩ về Tháng Chạp mà xem. Đó là tháng cuối cùng của một
năm, Tý Sửu hay Tuất Hợi. . . Ta sẽ có những ngày những đêm bình tĩnh, gặp một
cái gì đó từa tựa như sự tổng kết một chuỗi Mặt trời mọc và lặn, một sợi xích
thật dài nối với nhau bằng từng vòng mưa nắng, sum họp chia xa, lá rụng hoa
khai. Bốn mùa đã qua gần hết, có năm ngày lập xuân nằm ngay vào chiếc giường
tháng Chạp. Bão đã lặng. Nắng đã lùi. Gió đã lướt. Người ta gặp đã đi. Trái
bóng tròn đã vào lưới. Ta được thêm người bạn mới cái hôm tình cờ gặp nhau
trong quán cà phê, trên sân bóng đá mà nên bạn. Ta mất người bạn cũ bởi sau bấy
dặm đời mới chợt hiểu bạn đã rẽ ngang sang một ngã ba lạnh lùng...
Mới hôm này là tết, ta chọn được cành đào theo ta là tuyệt mỹ.
Ta ngơ ngẩn lang thang giữa vạn gốc đào tơ đào cỗi đào bích đào phai đào thất
thốn đào thế... kể cả cái phút mủi lòng gặp cô gái bán rong cành đào ế chiều ba
mươi tết mà ta biết rằng nhà cô còn xa lắm ở ngoại ô, bữa cơm tất niên đã dọn
ra, nhung cô vẫn còn buộc trong hy vọng trao cho ai đó một cành đào để nhận
của ai đó mấy tờ giấy nát nhàu gọi là tiền...
Hình nhu tháng Chạp là con tầu được lắp thêm chiếc đầu máy
phía sau nên nó hối hả vội vàng, lao đi với tốc độ chóng mặt, bóng dáng của nó
là những cơn gió mùa vi vút, tiếng của nó là bước chân người đuổi nhau mua sắm
như một cuộc chạy đua tốc độ, không nhanh chân thì giải an ủi cũng không còn,
và hình hài của nó còn là những phần trăm có thực hay là không có thực, nằm
trên tờ thống kê hay trong cuộc đời thực tế... chỉ có tháng Chạp mới thấu hiểu
những gì nó có.
Ta không hoài nghi, dù rằng thi hào Tagore đã viết: "Nước
nguồn của sự hoài nghi xanh xanh thẳm...". Nhà khoa học cần hoài nghi
nhưng tình yêu không được mảy may nghi ngờ. Ta chỉ mong ai viết nên con số thì
đừng tự dối mình, đừng trêu kẻ khác.
Tháng Chạp có tất niên, đi ăn một bữa chả cá tất niên, cắt tóc
tất niên, dự tiệc tất niên, tắm tất niên, riêng hát khê nồng chênh giọng những
"karaoke" thì cứ liên miên, riêng hát kể gì những đợt gió mùa liên
tiếp đổ về bất chấp ai thừa áo quần hay phong phanh ngực lép. Tháng Chạp độ
lượng bao dung tất cả.
Còn bao nhiêu ngày cuối cùng nữa nhỉ? Những sự mở đầu, còn
chậm rãi ung dung ở phía xa cuối con đường dương hoà xuân khí. Có lẽ tháng
Chạp cũng đã run rẩy cảm thông niềm chờ đợi, đó là những dự định, ước mơ, hy
vọng, đợi chờ đang manh nha trong mỗi bộ não và mỗi tâm hồn... Cô trinh nữ
mong gì? Chàng thi nhân muốn sao? Anh vận động viên ước muốn thế nào? Không ai
là gỗ đá, từ người có nhà lầu 5 tầng mới xây đến bé bán báo rong không biết mẹ
mình phiêu bạt chốn nào... Tháng Chạp có ngàn con mắt, ngàn đôi tai nhìn thấy
và nghe thấy hết, cho người này, tặng kẻ kia, lấy đi của người khác công bằng
và chẳng vô tư...
Tháng Chạp còn gọi là tháng Củ Mật, cần kỹ càng, cẩn thận.
Xưa nay những tên đạo chích nào biết thương ai, trong bóng tối, đêm đông, chúng
thành cái bóng xẫm màu của kẻ ác rập rình, coi rẻ cả những hiền lương và thánh
thiện. Ta với tháng Chạp phải đồng lòng gìn giữ để bớt đi, để hết đi tiếng
khóc, tiếng buồn.
Đã thấy những bà bán rong mặt hàng măng khô mộc nhĩ nấm hương.
Đã thấy cam sành Bố Hạ xếp đáy cổng chợ như Kim Tự Tháp bằng gốm nung già nâu
đỏ. Cái Tết đang dần đẩy lùi tháng Chạp nhưng tháng Chạp không một chút ưu
phiền, sẵn sàng đón nhận nỗi hư vô. Tết là mở đầu, là đầu tiên, nó tiếp nhận
cái cuối cùng nó như chiếc bầu nhụy vui lòng nhận sự tàn tạ của bông hoa để
kết thành quả nhú, như cái đêm hợp cẩn, người trinh nữ rời bỏ một điều để tiếp
nhận điều kỳ diệu khác...
Tuỳ theo tâm trạng, hoàn cảnh, ta mong tháng Chạp cứ chậm chạp
mà đi hay ta mong nó vùn vụt chóng qua... để bay lên chấp chới điều ta đang ấp
ủ.
Đóng lại một vòng quỹ đạo. Đóng lại những được và chưa được.
Ta đang xếp tháng Chạp vào quá khứ với tất cả nỗi niềm của một sinh linh đầy
mệt mỏi. Nói mệt mỏi không vì than vãn, mà chỉ là nhắc lại một câu trứ danh nào
đó: "Con người sinh ra là để mệt mỏi vì lao động. Nếu không lao động đến
mệt mỏi thì con người mới vô ích làm sao...". Tháng Chạp mang bao nhiêu sứ
mệnh trên vai, chất chứa cả 11 tháng trong lòng, nó có mệt mỏi như ta?
Có lẽ tháng Chạp cũng có tâm sự riêng mình, cần phải được sẻ
chia cùng bầu bạn. Nào lửa bánh chưng sắp nhóm, nào dự án đang ra đời, nào mâm
ngũ quả chờ nhau, nào kế hoạch cho tương lai đã định hình trang cuối, nào chọn
lịch mới vừa được treo lên, nào chuyến tàu chở người về quê hương hồi hộp, nào
xem ta vi mô, người khác vĩ mô, nào đôi người tóc bạch kim ngôi bên nhau trong
đêm tháng Chạp, nhẩm tính xem đã bao lần tháng ấy chung sống bên nhau...
Mỗi người đều có cái đầu tiên và cái cuối cùng của một đời,
một năm, một ngày của tâm thức và dung dị đời thường. Tháng Chạp theo đó mà
thiên hình vạn trạng, nói theo dân dã: Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh.
Và ta thêm: "Mỗi người có riêng Tháng Chạp của mình trước khi tết tung
bừng sắp đến...
Theo Khoa học & Công nghệ - Số Tết, Xuân Đinh Hợi - 2007
Câu ca dao chắt từ tinh túy đạo lý làm người, công ơn, tình
nghĩa:
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương
Cái răng sữa mới nhú chưa kịp sún, mẹ đã mớm cho ta dòng sữa gạo thơm hương. Đó
là nước nguồn vô tận, như núi Thái Sơn.
Chúng ta ai cũng quen với hạt cơm, bát cơm thơm nóng hằng ngày. Trẻ thơ vòng
tay nhau hát bài đồng dao đêm trăng sáng sân quê:
Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo tiền như nước...
là câu hát tình cờ ghép vần lựa điệu hay chính là mơ ước khát khao nghìn thuở
của kiếp nghèo bới đất vật cỏ cắm cây lúa xuống. Nắm rạ phơi khô đánh đống để
rút dần, ngọn cỏ ràng ràng cháy nỏ, bùng lên ngọn lửa trong ba ông đồ rau cho
ta niêu cơm, hay cái nồi ba nồi bảy, chiếc vung đất kênh lên nên nồi cơm có
chút cơm hớt lẫn chút tro đen. Không bỏ phí hạt nào. Cơm hớt cho con chó con gà
quen thuộc ngon lành chung sống. Cả miếng cháy sém cạnh nồi... ngọc thực đấy
chứ đâu phải là của phí.
Bữa ngự thiện của nhà vua chắc cơm gạo tám, gạo dự, hay gạo nàng hương... còn
ông bà ta, cơm hẩm cà kho, gạo xay gạo lức, ngày ba tháng tám dễ gì cái nồi
được đầy, dễ gì cái bát được lưng lưng...
Ta đi trăm bến nghìn sông, mẹ gửi theo mo cơm nắm muối vừng như gửi theo tấm lòng
cầu chúc bình an đi đến nơi về đến chốn.
Ai còn nhớ những chiều đông tê tái, được trở về căn nhà ấm cúng ngọn lửa hừng,
mẹ xới cho bát cơm nóng hổi, thơm lừng như một phép mầu đủ sức hồi sinh. Hạt
cơm như một phép tiên, hạt muối như viên thuốc bổ. Mẹ cha làm ra hạt cơm ấy, nó
trắng ngần trong lòng bát, nó ngào ngạt hương quê, nó tràn đầy chân tình và sức
mạnh, đâu có dễ dàng xuất hiện để ta tự nhiên tọa hưởng kỳ thành. Mồ hôi và
nước mắt, máu đỏ cùng tả tơi da thịt chống lại rắn rết và cái ác rập rình để có
miếng cơm, dễ gì ta thấu được một lúc một ngày.
Nay nhiều nơi đã đun bếp điện, bếp hơi, nắm rơm nắm rạ hay mớ củi rào khói cay
sè đôi mắt đã lùi lên miền núi cao sương phủ hay làng xa hun hút cuối con đường
xe chạy, những bữa cơm ăn trong ánh đèn sáng chưng thành phố, những miếng cơm
gẩy gẩy trên đầu đôi đũa mun, đũa ngà, chắc chẳng ai nghĩ xa xôi đến chiếc bát
đàn sứt mẻ và chiếc niêu đất ám nặng tro than mấy thuở.
Những cánh đồng bát ngát chân mây thật thơ mộng dưới ngòi bút thi nhân nghệ sĩ
nào khói lam chiều, nào hương lúa xanh rờn, nào ánh trăng ngần má người con
gái... nhưng phũ phàng sao sự thật, cơm niêu nước lọ ăn xó mó niêu dân dã hoàn
toàn đi vào dĩ vãng. Quên ơn những luống cày và bàn tay vơ cỏ, quên hơi cám,
bát cơm nguội lót lòng chưa phải đã hết ở những con người không hề biết phân
biệt cây cỏ lồng vực với ngọn lúa trổ bông...
Người Việt Nam thường hỏi thăm nhau: Anh đã ăn cơm chưa, mà không hỏi anh đã ăn
tiệc chưa, hay anh đã ăn bánh mì chưa. Người ta hỏi về sức khỏe cũng không hỏi:
Độ này mỗi bữa bác ăn được mấy lạng thịt hay mấy cân cam mà chỉ hỏi: Độ này bác
ăn mỗi bữa mấy lưng hay mấy bát. Lưng hay bát là thứ đựng trong cái bát đấy, là
hơi thở sự sống, là sức bền con người.
Những xôi vò chè đường là quý, những giò nem ninh mọc là sang, nhưng kinh
nghiệm truyền đời: Cơm tẻ no xôi vò chẳng thiết, Cơm tẻ là mẹ ruột.
Cơm rang, cơm nắm, cơm nguội, cơm xới vào cặp lồng mang đến cơ quan hay ngoài
đồng cho một bữa trưa, cơm bụi vỉa hè, bữa cơm làm việc, mâm cơm sinh nhật...
đều là miếng cơm ta biết ta quen, cho ta sức vóc và trí tuệ, cho ta thân hình
và dẻo dai bền bỉ một đời người.
Nước ta nông nghiệp, cây lúa đi theo con người từ trước cả các Vua Hùng. Ta
biết miếng cơm khi còn là bào thai trong bụng mẹ, ta nhớ về tổ tiên trong mâm
cơm cúng chỉ xới một chút xíu hay bát cơm chồng hai làm một. Mong sao, những
hạt gạo đồng xa đồng gần, mưa nắng bão bùng mưa gió... được đến với tất cả mọi
người, không ai phải chịu cảnh thèm hơi cơm dạ xót như bào vẫn đang còn rải rác
những vùng xa hiểm trở hay non cao khuất lấp rừng già.
Một ngày lễ trong năm, thành phố ít biết những người làm ra hạt gạo lại coi
trọng: Lễ cơm mới. Lúa gặt về, tuốt ngay một lượm, thổi nồi cơm mới cúng tổ
tiên trời đất. Hôm ấy cả làng ngát thơm hương cơm mới, hương bay từ nhà ra sân
ra vườn, vượt hàng rào, bay lên ngọn tre ngọn cau... có lẽ lên tới Ngân Hà có
chiếc gầu sòng tát nước. Thành phố ăn theo: con chim ngói và đĩa xôi thành thời
trân quý giá, thành lễ đón mùa thu, thành phấp phỏng chờ đợi con rươi vỏ quít
đưa đường và chờ đợi mùa hoa đào sẽ đến sau vài con trăng nữa.
Mới hôm nào vùng trung du Lục Ngạn cho những chùm vải thiều
ngon ngọt la đà ngay sát đất. Rồi đất Hồng Châu cổ, có cây Nhãn tổ hơn ba trăm
năm trên vùng xưa phố Hiến (Hưng Yên). Mùa nhãn năm nay được. Cùi nhãn còn ngọt
mãi trong cổ họng.
Tiết thu miền bắc tạm qua mùa bão và là mùa của quả ngọt.
Đầu vị của mâm cỗ mùa thu đâu chỉ là trái bưởi. Hồng mới là
chủ soái cho cuộc hành trình rước trăng xuống trần gian vui tết. Hồng Hạc quả
vuông, vỏ xanh lá mạ. Hồng Lạng quả tròn, da nhuộm chút ánh vàng.
Bổ quả hồng càng thấy kỳ lạ. Hình như ruột quả chứa đầy lân
tinh, đầy kim nhũ óng ánh sắc mặt trời, chứa đầy cái giòn của một thứ sụn non,
cái ngọt thanh.
Và hồng ngọc chín mọng, căng tròn, đỏ au như một thứ đá Rubi
khổng lồ trong kho tàng cổ tích. Hồng ngọc mà đi với cốm Vòng thì thành một đôi
duyên trăm năm bền chặt.
Mâm cỗ mùa thu không thể thiếu ba thứ quả mùa thu ấy. Cốm nữa.
Cốm thoảng hương lá sen già như cố níu mùa hè ở lại thêm chút dư âm.
Ổi găng chín vàng, ổi nậm hơi chua, ổi nghệ hơi chát, ổi đào
tươi như mầu đào làm đẹp thêm cho mâm cỗ.
Ngọt sắc là na. Na bở bên na dai có nhiều ở Bắc Giang, Lạng
Sơn, Đồng Mỏ...
Hà Nội có lẽ là thành phố có nhiều cây sấu nhất. Mùa hè là mùa
của sấu nhưng sang thu đầu cành vẫn sót lại những chùm quả chín vàng như nắng.
Gọt một quả sấu chín thành hình ruột gà, để thưởng thức vị ngọt, chua, giòn, lạ
của nó, cho cái lưỡi một cảm giác đổi thay.
Mùa thu cũng là mùa chuối tiêu nhuộm vàng mầu trứng cuốc.
Phương Tây và Châu Mỹ quen ăn chuối có vỏ vàng, cái cuống còn xanh. Người Việt
Nam phải chăng sành hơn, chỉ chọn nải chuối chín nục có chấm nâu lấm tấm. ấy là
lúc chuối bắt đầu thơm, thịt mềm, vỏ mỏng, ruột trắng như ngà non, ăn với cốm
rất ngon, mà ăn riêng nó càng ngon, càng tinh chất; từ cụ già đến em bé, chuối tiêu
trứng cuốc đã thành mỹ vị ngọt lành.
Mâm cỗ trông trăng, đêm Trung thu bao giờ cũng là đêm kỷ niệm
mỗi đời người. Ngoài các loại bánh nướng, bánh dẻo, bánh mặt trăng, bánh cốm...
thì quả mùa thu góp phần không nhỏ. Các loại quả ấy là mồ hôi nước mắt bao
người, nó cũng là tinh túy của đất trời đọng lại, là sắc mầu và hương vị, là
hình ảnh và tình quê hương cho ta gắn bó với nước non. Mâm cỗ mùa thu còn để
ngắm. Quả nói thầm điều gì, tùy mỗi tấm lòng: ước mong "Muốn ăn lúa tháng
Năm trông rằm tháng Tám", hay chỉ là bày cỗ để hưởng ứng mùa thu trăng
thanh gió mát, để tiễn mùa hè la đà quả ngọt lùi xa...
Lâu nay, còn nhiều thứ quả miền Nam đưa ra đất Bắc, còn nhiều
thứ quả ươm trồng, trái mùa, bắt thời gian phụ thuộc con người... nhưng
"mùa cổ điển" vẫn còn (chữ của nhà thơ Quách Tấn), quả mùa thu đang
thịnh vượng.
Bún chả
Có một món quà Hà Nội rất ngon mà cũng phổ thông, ai cũng
thích ăn, ăn lúc nào và ở đâu đều được hết. Có lẽ nó chỉ thua món phở vì không
là món ăn lót dạ hay món ăn khuya mà thôi. Đó là bún chả.
Ai cũng có thể làm bún chả, nhưng có lẽ người Hà Nội đã nâng bún chả lên hàng
tác phẩm với bàn tay nghệ sĩ của mình. Thịt ba chỉ thái hơi mỏng, nướng trên
than hoa hơi cháy cạnh, thơm lừng, mời gọi. Thịt nạc băm nhỏ, đặt vào vỉ sắt,
cũng nướng thế, gọi là chả băm. Chả miếng, chả băm đã nướng chín, được thả vào
lòng chiếc bát đã lấp lửng một thứ nước chấm pha kỳ diệu. Nước mắm thật ngon,
dấm chua (chứ không phải chanh) hạt tiêu, thêm ít nước lọc cho đỡ mặn, gia một
chút đường cho mềm mại... vài ba lát ớt bỏ hạt, chỉ còn là cái thoi mầu đỏ đã
trống rỗng, và nếu quý hơn, một tí chút hương cà cuống đầy mê hoặc và gợi
cảm... bát nước chấm ấy mới là linh hồn của món bún chả.
Bún rối trắng tinh, mềm lả lướt, bún làng Phú Đô, Tứ Kỳ... Đương nhiên, bún
không được chua, thế vẫn là chưa đủ, đồng hành với nó phải có đĩa rau sống gồm
xà lách tươi non cùng rau mùi ta, mùi tầu, húng láng, rau ngổ ba lá, kinh giới,
tía tô... tất cả đồng ca thành nhịp điệu ngon lành. Bún chả Hà Nội ngon một
phần vì cách chế biến bát nước chấm, phần nữa vì có đầy đủ các loại rau sống
như thế. Không kể, còn có thể có món dưa góp cà rốt, xu hào ngâm dấm để đẩy đưa
vị giác, cho miếng chả ngọt thơm mà không ngấy.
Mấy chục năm trước, bún chả thường bán rong thành món quà trưa. Cô bán hàng mặc
áo dài, chân đi đất, vấn khăn nhung, thắt lưng hoa lý hoa đào. Cô đỗ gánh một
ngã tư không cần rao vì làn khói quạt chả đã thành lời im lặng, sực nức một
đoạn phố dài. Bây giờ, bún chả Hàng Mành được người Hà Nội đến ăn đông nhất.
Thịt làm chả phải mềm, của con lợn không quá lớn. ớt tươi chứ không bao giờ là
tương ớt. Hạt tiêu vỏ thơm chứ không là hạt tiêu sọ chỉ cay mà ít hương. Mùa
rau muống, còn có thể có thứ rau muống Sơn Tây chẻ nhỏ, xoăn tít. Món bún chả
quả là một tác phẩm "tổng hợp" nhiều yếu tố, đủ vị mà còn đẹp mắt,
vừa ngon lại hợp túi tiền.
Thời gian qua đi món bún chả cứ sống mãi trong lòng người, qua bất cứ thế hệ
nào...
Mang một cái tên xấu xí, cây cơm nguội chẳng có hương thơm,
cành cũng không thẳng và lá không to... nhưng nó là sức bền, là sự kiên tâm,
bất chấp đổi thay thời tiết...Nhưng cây cơm nguội có vẻ riêng mà không cây nào
sánh được.
Hà Nội có những đường cây khá đẹp. Nó là niềm yêu của ai đang
ở Hà Nội, là nỗi nhớ của người đi xa, cũng là mong chờ của ai chưa đến.
Phố Trần Hưng Đạo có rặng sấu sum suê, tán tròn, xanh quanh
năm. Phố Lò Đúc có hàng sao đen cao vút, thân thẳng tắp, đầy bóng mát. Đường
Thanh Niên có phượng đỏ rực trời hè, nay còn thêm hoa ban tím. Phố Hàng Dầu có
hoa sữa, nay còn thêm dâu da xoan. Đặc biệt phố Lý Thường Kiệt và quãng cửa Uỷ
ban Nhân dân thành phố Hà Nội, phố Đinh Tiên Hoàng, có hàng cây cơm nguội. Cái
tên xấu xí, nhưng nó có vẻ riêng, không cây nào sánh được. Nó còn có tên nữa là
sếu. Hình như chỉ Hà Nội mới có nhiều cây này. Bóng mát lăn tăn, mùa hè xanh
ngát. Mùa đông rụng hết lá, cành trơ ra từ to đến nhỏ trong sương mờ, trong mây
bạc nhìn cành khẳng khiu mà tưởng ta đang đi trong tranh thuỷ mặc.
Cây cơm nguội rụng lá trước mọi loại cây. Tháng mười, khi hoa
sữa toả hương trong đêm thì lá cơm nguội vàng au, bay đầy mặt đất. Thu đã đến
hẳn rồi Hà Nội ạ.
Nhưng nó cũng lại hồi sinh cùng mùa xuân sớm nhất... Ngay từ
tháng chạp, khi những cây bàng còn thả những tờ thư đỏ cho mặt đường, thì từ
những cành tưởng đã chết khô, chết héo kia bật ra những cái chấm màu đồng điếu;
màu tím hồng, rồi chẳng bao lâu thành màu xanh lá mạ, xanh non như màu nõn
chuối, tắm trong mưa xuân sớm, nắng xuân sớm. Lá ấy trông ngon như màu cốm, hấp
dẫn trẻ thơ ngắt quả chơi, hấp dẫn cả những ai yêu nhau phải hò hẹn tìm nhau.
Cây cơm nguội sống hàng trăm năm, có khi còn dài hơn một đời
người. Cây cơm nguội mọc thành hàng, cho phố thêm thơ mộng. Trong bóng hàng cây
ấy, ai là người có những kỷ niệm vui buồn của đời mình với một gốc cụ thể nào?
Có thể đó là buổi không thuộc bài, hôm đi bắt ve sầu, lúc đánh mất hòn bi ve,
hôm đi tiễn đưa người bạn, cái buổi lần đầu tiên cầm tay ai, hồi hộp không nói
nên lời. Cũng có thể đó là chỗ hai người chia tay vĩnh biệt, hoặc cắt đứt mọi
ràng buộc một đời...
Cây cơm nguội hẳn biết chia sẻ nỗi niềm, tình cảm ấy. Vì thế
mà nó cứ thì thầm lao xao, mà rung rinh sáng lên trong nắng ấm, trong mưa phùn,
trong dòng đời của bao cây khác, hoa rực rỡ hoặc thơm ngát hoặc thơm nồng...
Cây cơm nguội khiêm tốn vì hoa không thơm, cành không thẳng, lá không to...
nhưng nó là sức bền, là sự kiên tâm, bất chấp đổi thay thời tiết...
Tuy vậy, cũng có những cây cơm nguội quá già nua, bị sâu ăn
ruỗng, phải nhường chỗ cho cây non, có khi là khác loài. Nhưng nó im lặng, vui
lòng.
Cây sấu Hà Nội
Rau muống luộc là món quen thuộc hàng ngày, gần như quanh
năm. Với người Hà Nội, ít gia đình nào chịu chấm rau vào bát nước mắm rót từ
chai ra mà không pha thêm một thứ gì đó. Nông dân thích rau muống chấm tương. Còn
Hà Nội rau muống chấm vào thứ nước chấm có vị chua dịu. Tùy theo mùa có cà
chua, quả thanh trà, quả muỗm (còn gọi là quéo, không phải xoài), trái chanh cốm
đầu mùa...nhưng ngon nhất có lẽ là quả sấu xanh.
Tháng Ba, trời sang mùa. Trời báo hiệu sẽ có cái nắng mới ong
ong như để chờ đón tiếng sấm đầu mùa từ đâu trở lại. Chuẩn bị cất cái khăn quàng
để mặc tấm áo mỏng cho mát đôi vai. Bầu trời bắt đầu cao như mây tự nâng mình
lên vì mưa phùn cuối xuân cũng đã mệt mỏi. Mâm cơm đã chất đầy thịt cá. Tạm bằng
lòng với bát nước luộc rau muống đánh giấm tỏi cà chua hơi hồng hồng, miếng cà
chua nằm im lặng dưới đáy bát, và bát nước chấm thơm lừng vị chanh cốm đầu mùa
ít nước nhưng hàng xóm còn "nghe" thấy hương thơm.
Đi trên đường phố, một hôm nào trong gió lộng nồm, chân ta
ngập trong thảm lá vàng, lá duỗi theo chân, cuốn vào bánh xe,xà cả lên (hay
xuống) vai người như lá thư thăm hỏi.Lá sấu rụng đấy.Cùng với lá rụng đã xuất
hiện những chùm lá mướt bóng làm bằng xa tanh, màu nõn chuối thấm dần, màu
thiếu nữ sắp biết làm duyên.Tuần lễ nữa chăng, sẽ xuất hiện những chùm hoa sấu
li ti, trắng dần lên.Mỗi chiếc hoa sấu lá một chiếc chuông con tí xinh xinh. Có
sáng ra nhìn quanh gốc sấu, tưởng ai vừa đánh đổ một thúng gạo nếp, từng hạt
mập mạp không dám giẫm chân lên. Hoa sấu ơi sắp làm quả nhỉ. Những tán sấu tròn
xoe như có người cắt tỉa, lá sấu rậm rạp, như để sẵn sàng chở che cho những chú
nhạc sĩ vĩ cầm lột xác, rỉ rả, rên rỉ trên khắp cành cao thấp: Ve sầu.
Mươi hôm nửa tháng, chỗ những hạt gạo nếp hoa lìa cành, nhú ra
cái quả sấu non, bằng cúc áo, bằng hạt vải thiều, bằng chiếc kẹo bi, bằng viên
bi đất...Bát nước chấm đã có quả sấu luộc nhừ, cái hạt trắng ngời như răng sữa
non em bé, nhấm nhấm mà hay hay.Sấu đầu mùa không cần gọt vỏ.Nó chua dịu mềm
mại thanh thanh.Trưa, bát canh thịt nạc, nổi chìm mảnh cùi sấu có thể sua tan
mệt nhọc, ngọt mà chua thơm thoáng vị hành hoa đất Láng hòa với quả sấu phố
phường Hà Nội, ít nơi nào có được món canh như thế. Chìm dưới đáy bát là cái hạt
trắng mềm như hạt ngô nếp. Người Hà Nội không ai không biết vị sấu chua cùng bát
canh sấu như thế. Bởi cây sấu là cây đặc bịêt, chỉ có Hà Nội mới có nhiều đến
thế. Nó chính là cây cho bóng mát, có thể cao tới 30 mét, lá um tùm, tròn trịa,
gốc có vẻ có bạnh, đẹp nhất là phố Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, quanh Hồ
Gươm...
Đứng từ đầu phố, phía Đồn Thủy nhìn về cuối phố, phía Ga Hàng Cỏ, ta tưởng như ta đã hóa con thuyền đang lơ lửng trôi giữa đôi bờ xanh ngát ánh lá sấu thường xanh suốt bốn mùa, còn mùa hoa thì phố thơm nhè nhẹ gần giống hương hoa dâu da trên phố Hàng Bè.nó cho bóng mát nhưng nó cho quả, chỉ Hà Nội có. Thành phố Hồ Chí Minh nhiều cây cao vút, Hải Phòng nhiều hoa Phượng đỏ, Đà Nẵng nhiều Hoàng Linh hoa vàng.Chỉ Hà Nội mới nhiều rặng sấu.Hoa sấu không rưc rỡ như bằng lăng nước tím, không cháy lên như xoan tây, không thơm như hoàng lan...nhưng người Hà Nội không thể nào quên cây sấu cho những quả sấu ngon lạ, cho quả ô mai sấu vừa ròn, vừa dai, quả sấu chín vừa chua, vừa ngọt, gọt xong vẫn còn hình tròn, nhưng nhấc lên nó xoắn lại như cái ruột gà, cái lò so, ta ăn cái lò xo ấy để trẻ lại cùng tháng tám.Vào mùa thu này, sót lại trên cành cao, những quả sấu như lơ lửng màu vàng giữa nền trời xanh cái cuống mờ đi không thấy, mỗi quả sấu trở thành nốt nhạc, in vào khuông nhạc trời thu, lung linh trong lòng ta cảm giác tiếng đàn Hà Nội sang thu. Có nhà thơ đã gọi cây sấu là "cây âm nhạc" vì thế.
Đứng từ đầu phố, phía Đồn Thủy nhìn về cuối phố, phía Ga Hàng Cỏ, ta tưởng như ta đã hóa con thuyền đang lơ lửng trôi giữa đôi bờ xanh ngát ánh lá sấu thường xanh suốt bốn mùa, còn mùa hoa thì phố thơm nhè nhẹ gần giống hương hoa dâu da trên phố Hàng Bè.nó cho bóng mát nhưng nó cho quả, chỉ Hà Nội có. Thành phố Hồ Chí Minh nhiều cây cao vút, Hải Phòng nhiều hoa Phượng đỏ, Đà Nẵng nhiều Hoàng Linh hoa vàng.Chỉ Hà Nội mới nhiều rặng sấu.Hoa sấu không rưc rỡ như bằng lăng nước tím, không cháy lên như xoan tây, không thơm như hoàng lan...nhưng người Hà Nội không thể nào quên cây sấu cho những quả sấu ngon lạ, cho quả ô mai sấu vừa ròn, vừa dai, quả sấu chín vừa chua, vừa ngọt, gọt xong vẫn còn hình tròn, nhưng nhấc lên nó xoắn lại như cái ruột gà, cái lò so, ta ăn cái lò xo ấy để trẻ lại cùng tháng tám.Vào mùa thu này, sót lại trên cành cao, những quả sấu như lơ lửng màu vàng giữa nền trời xanh cái cuống mờ đi không thấy, mỗi quả sấu trở thành nốt nhạc, in vào khuông nhạc trời thu, lung linh trong lòng ta cảm giác tiếng đàn Hà Nội sang thu. Có nhà thơ đã gọi cây sấu là "cây âm nhạc" vì thế.
Trở lại mùa hè, bát sấu dầm thơm thơm và tê tê đầu lưỡi chút
gừng đập dập, nước đường sóng sánh, quả sấu rập rờn...có lẽ là thứ quà con gái,
không cô gái nào bỏ qua cho được khi mùa sấu tới.
Sấu không phải là cây lương thực,cũng không là cây thực
phẩm. Các vùng khác cũng ít có nó. Chỉ Hà Nội mới rủ nhau xếp thành hàng hai bên
đường như đoàn quân danh dự mặc áo xanh, đội mũ xanh, màu diệp lục mát tươi.
Hà Nội có những đêm ngát hương thơm tình ái: Hoa sữa mùa
thu. Cây sấu hình như ít được vào thơ vào nhạc. Phải chăng nó là kẻ vô
duyên? Không hẳn. Gốc nó không xù trăm mắt như cây gạo, không thẳng vút như cây
xà cừ, tên latinh là: ĐRACÔNTMELUM DUPEREAMU Pierre, thuộc họ Điều (ANDIACEAE),
cái tên khó nhớ, mà chỉ nhớ vị chua ngọt của thứ quả không thể đem làm quà,
nhưng lại mang đầy chất thời gian của những mùa vần chuyển cho người Hà Nội.
Băng Sơn








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét