Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

Các nhà thơ Pháp 1

Các nhà thơ Pháp 1
Guillaume Apollinaire 
(tên thật bằng tiếng Ba Lan: Wilhelm Albert Vladimir Apollinaris de Wąż-Kostrowitcki, 26 tháng 8 năm 1880 - 9 tháng 11 năm 1918) - nhà thơ Pháp gốc Ba Lan, một trong những nhà thơ lớn của Pháp đầu thế kỉ XX.
Tiểu sử:
Wilhelm Albert Vladimir Apollinaris Kostrowitzky sinh ở Roma, Ý. Mẹ là Angelica Kostrowicka, một phụ nữ quí tộc đã sa sút chạy sang Ý sau cuộc bạo loạn 1863 - 1864 ở Ba Lan, bố không rõ. Năm 1887 Wilhelm Kostrowitzky cùng mẹ và em trai chuyển về Monaco. Học ở Monaco, Cannes. Từ năm 1899 chuyển về sống ở Paris, làm thơ, viết báo và trở thành nhà thơ nổi tiếng với bút danh Guillaume Apollinaire – là cách gọi bằng tiếng Pháp của hai tên Ba Lan Wilhelm và Apollinaris. Tháng 9 năm 1911 Guillaume Apollinaire bị bắt vào tù vì ông bị nghi tham gia vào vụ ăn cắp bức họa Mona Lisa nổi tiếng ở bảo tàng Luvre, một năm sau được trả tự do vì không tìm ra chứng cứ. Năm 1912 ông cùng bạn bè thành lập tạp chí “Chiều Paris” và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này in bài thơ nổi tiếng nhất của ông: Cầu Mirabeau (Le Pont Mirabeau) và trường caZone, đưa Guillaume Apollinaire lên vị trí số một trong các nhà thơ đương thời. Năm 1913 in tập thơ Rượu (Alcools), năm 1914 in một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình (Calligrammes).
Khi chiến tranh thế giới I nổ ra, Guillaume Apollinaire tình nguyện ra trận với mong muốn được giải phóng Ba Lan nhưng bị thương nặng, trong thời gian này ông viết nhiều bài thơ về chiến tranh. Tháng 3 năm 1916 Guillaume Apollinaire được nhập quốc tịch Pháp và trở lại Paris tiếp tục sáng tác. Guillaume Apollinaire mất ở Paris vào năm ông 38 tuổi.
Tác phẩm:
*Les exploits d’un jeune Don Juan, 1907
*Les onze mille verges, 1907
*L'enchanteur pourrissant, 1909
*L'Hérèsiarque et Cie, 1910
*Le Théâtre Italien, 1910
*Le bestiaire ou le cortège d’Orphée, 1911
*Alcools, 1913
*Les peintres cubistes, 1913
*La Fin de Babylone, 1914
*Case d'Armons, 1915
*Le poète assassiné, 1916
*Les mamelles de Tirésias, 1917
*L'esprit nouveau et les poètes, 1918
*Calligrammes, 1918
*Le Flâneur des Deux Rives, 1918
*La femme assise, 1920
*Le guetteur mélancolique
Các tuyển tập:
*Oeuvres роétiques. P., 1956
*Oeuvres completes, t. 1-4, P., 1965-1966
*Oeuvres en prose complètes. Vol.1-2. Paris: Gallimard, 1991 (Bibliothèque de la Pléiade).

Hoa thạch thảo
LỜI VĨNH BIỆT
Anh đưa tay ngắt chùm hoa thạch thảo
Tự nhủ lòng thu đã chết rồi em
Hai đứa ta không gặp nữa trên trần
Nhưng mùi hương thời gian chùm thạch thảo
Nhắc anh chờ em đó, nhớ đừng quên. 
Trích từ “Đời dâng cho Tình yêu” (Vitam Impendere Amori)
Tập thơ này có 6 bài, chúng tôi dịch bài 1 và 3. 
1*** 
Tình yêu đã chết trên bàn tay em
Em còn nhớ chăng những đêm gặp gỡ?
Hãy hồi sinh nó, để quay lại nữa
Em lại bước ra gặp gỡ với tình.
Và cuối cùng rồi cũng hết mùa xuân
Đã từng dịu dàng với anh như thế
Thôi, từ giã với mùa xuân, là để
Em quay về, lại như thế, dịu dàng.
3*** 
Em không mở ra được điều bí mật
Con tàu thời gian đang tiến lại gần
Để hai ta giờ bỗng nhiên thấy tiếc
Rằng anh và em đã chẳng chung đường.
Hoa hồng nổi bồng bềnh trên mặt nước
Lướt qua mau mặt nạ của đám đông
Rồi rung trong anh như một cây chuông
Là bí mật mà em không mở được. 
MÈO
Tôi muốn có trong nhà của mình:
Một người phụ nữ đẹp, thông minh
Một con mèo giữa bao nhiêu cuốn sách
Và những người bạn ghé quanh năm
Mà nếu thiếu thì tôi không sống được.

CẦU MIRABEAU
Dưới cầu Mirabeau êm đềm trôi dòng Seine
Trôi cả tình yêu của anh và em
Không biết anh có còn nên nhớ
Niềm vui sẽ đến theo sau nỗi ưu phiền.
Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần
Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh.
Mặt đối mặt và tay trong tay nhau
Vòng tay ta như cầu
Dưới cầu dòng nước chảy
ánh mắt rã rời vì li biệt dài lâu.
Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần
Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh.
Tình ra đi như dòng nước trôi nhanh
Tình yêu của em và anh
Cuộc đời ơi, sao mà chậm rãi
Hy vọng sao mà dữ dội cuồng điên.
Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần
Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh.
Vẫn trôi đều ngày tuần, tháng năm
Quá khứ và tình yêu quay trở lại không còn
Chỉ một điều không bao giờ thay đổi
Dưới cầu Mirabeau êm đềm trôi dòng Seine.
Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần
Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh.
BÀI THƠ TẶNG LINDA
Cái tên nghe rất tôn giáo của em
Hơi kiêu kì - và đó là bản chất
Cái tên em bí ẩn không giấu được
Tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “xinh”.
Còn tiếng Đức có nghĩa là “dịu hiền”
Như tháng Tư giữa trời đêm trong gió
Cây gia thần tiên hát ca, nghiêng ngả
Trong tiếng xạc xào hương toả mùi đêm.
Tên của em đẹp hơn mọi cái tên!
Thời Hy Lạp cổ, đó là “thành phố”
Rất phồn thịnh, như thiên đàng, một thuở
Giữa những hoa hồng trên đảo Rhodes hát lên.
Louis Aragon (3 tháng 10 năm 1897 - 24 tháng 12 năm 1982) - nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị Pháp, thành viên của Viện hàn lâm Goncourt.
Tiểu sử:
Louis Aragon sinh ở Paris, là con ngoài giá thú của Marguerite và Andrieux. Học Đại học Y ở Paris. Sau này, Aragon chọn bút danh cho mình lấy tên của một vùng đất lịch sử ở Tây Ban Nha. Thời trẻ Aragon gần gũi với các nhóm Dada và Surrealism. Năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực tham gia các hoạt động báo chí. Năm 1932 cùng đoàn các nhà văn Quốc tế đến thăm vùng Ural của Liên Xô. Ấn tượng của chuyến đi này được Aragon thể hiện trong tập thơ Hourra l'Oural, (Hoan hô Ural, 1934). Vợ của Aragon là Elsa Triolet, một cô gái Liên Xô gốc Do Thái. Elsa Triolet là chị gái của Lilya Brich, vợ của nhà thơ Nga nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, bản thân Elsa Triolet cũng là một nhà văn nổi tiếng.
Thời kỳ Thế chiến II, Aragon tham gia phong trào Kháng chiến, là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào này. Các tập thơ Le Crève-Cœur, (Dao trong tim, 1941); Les Yeux d'Elsa, (Đôi mắt Elsa, 1942); thể hiện lòng yêu nước và sự quay về với những đề tài tình yêu cổ điển. Ngoài thơ ca, Aragon còn là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị về những vấn đề của văn học hiện đại. Louis Aragon mất ở Paris năm 1982.
Tác phẩm:
Văn xuôi:
*Anicet ou le Panorama, 1921
*Les Aventures de Télémaque, 1922
*Le Libertinage, 1924
*Le Paysan de Paris, 1926
*Le Con d’Irène, 1927 (sous le nom d’Albert de Routisie)
*Les Cloches de Bâle, 1934 («Le Monde réel»)
*Les Beaux Quartiers, 1936 («Le Monde réel»), Prix Renaudot
*Les Voyageurs de l’Impériale, 1942 («Le Monde réel»)
*Aurélien, 1944 («Le Monde réel»)
*Servitude et Grandeur des Français. Scènes des années terribles, 1945
*Les Communistes (6 volumes), 1949 -1951 et 1966 -1967 («Le Monde réel»)
*La Semaine Sainte, 1958
*La Mise à mort, 1965
*Blanche ou l’oubli, 1967
*Henri Matisse, roman, 1971
*Théâtre/Roman, 1974
*Le Mentir-vrai, 1980
*La Défense de l’infini, 1986
*Les Aventures de Jean-Foutre La Bite, 1986
Thơ:
*Le Musée Grévin, publié sous le pseudonyme de François la Colère
*La rose et le réséda
*Feu de joie, 1919
*Le Mouvement perpétuel, 1926
*La Grande Gaîté, 1929
*Persécuté persécuteur, 1930 -1931
*Hourra l’Oural, 1934
*Le Crève-Cœur, 1941
*Cantique à Elsa, 1942
*Les Yeux d’Elsa, 1942
*Brocéliande, 1942
*Le Musée Grevin, 1943
*La Diane Française, 1945
*En étrange pays dans mon pays lui-même, 1945
*Le Nouveau Crève-Cœur, 1948
*Le Roman inachevé, 1956
*Elsa, 1959
*Les Poètes, 1960
*Le Fou d’Elsa, 1963
*Il ne m’est Paris que d’Elsa, 1964
*Les Chambres, poème du temps qui ne passe pas, 1969
TÌNH HẠNH PHÚC KHÔNG HỀ CÓ
Con người chẳng có quyền gì. Không ở trong sức mạnh
Không ở trong tim, trong sự yếu đuối của mình
Khi giang rộng vòng tay – thì tai họa đứng sau lưng
Xiết chặt vào lòng – là giết mình mãi mãi
Sự hành hạ con người đôi cánh rộng mở ra
Tình hạnh phúc không hề có.
Bị tước mất vũ khí, đời người lính còn gì
Khi người ta đem đặt thứ khác vào số phận
Mỗi buổi sáng thức giấc thấy đời trống vắng
Rồi chờ đợi buổi chiều với một nỗi buồn thương
Không cần nước mắt đâu. Đó là cuộc đời anh
Tình hạnh phúc không hề có.
Tình của anh và nỗi đau, nỗi đau đớn của anh
Như con chim bị thương, em trong tim anh đó
Anh và em bước đi dưới ánh mắt thiên hạ.
Anh bện vào những lời rồi nhắc lại những lời anh
Vì đôi mắt của em mà người ta xin chết sẵn sàng
Tình hạnh phúc không hề có.
Không, ta đã muộn màng để học cách sống từ đầu
Cứ để cho hai con tim trong buổi chiều cùng đau khổ
Cần đau đớn để cho bài ca sinh hạ
Và lòng thương, khi đám cháy đã không còn
Cần thổn thức để cùng cây đàn ghi ta hát lên
Tình hạnh phúc không hề có.
Không có trên đời tình yêu mà không biết đến đau thương
Không có trên đời tình yêu mà khổ đau không mang đến
Không có trên đời tình yêu mà không sống bằng đau đớn
Và anh cũng như em, vẫn yêu đất nước quê hương
Không có tình yêu mà không có nước mắt, đau buồn
Tình hạnh phúc không có nhưng tình vẫn sống
Và đâu phải vì điều này mà anh hết yêu em.

SAO CÁ ĐEN
Bầu trời xanh soi mình trên dòng nước
Một con thuyền trên sóng nước tròng trành
Con thuyền nghiêng, nghiêng hẳn về một bên
Người đánh cá khỏa chân trên dòng nước.
Ánh mặt trời vàng, lăn tăn gợn nước
Khi thuyền ghé vào lớp cát tận cùng
Người vẽ những tia sáng tối đan xen
Ngày giấu mình sâu trong làn nước biếc
Trong mắt Thiên ngư đọng một nỗi buồn.

ĐÔI MẮT ENXA
Anh uống đã hạnh phúc trong đôi mắt sâu thẳm của em
Thấy tất cả mặt trời cũng đến đây chiêm ngưỡng
Vì đôi mắt này mà đã chết đi bao nhiêu tuyệt vọng
Trong đôi mắt sâu anh đánh mất trí nhớ của mình.
Trong bóng của bầy chim, biển cả dậy sóng lên
Và trong ngày đẹp trời đôi mắt em thay đổi
Hè may áo cho thiên thần từ những làn mây rối
Trời ở đâu xanh hơn như lúa mạch trên đồng.
Những ngọn gió vô vọng xua nỗi buồn thiên thanh
Đôi mắt em sáng hơn khi mắt tuôn dòng lệ
Đôi mắt em trước cơn mưa với trời xanh ghen tỵ
Kính không đâu xanh bằng nơi kính vỡ viền xanh. 
Bảy nỗi đau Đức Mẹ* làm ánh sáng ẩm ướt hơn
Bảy thanh kiếm xuyên vào giữa tâm bao màu sắc
Ngày buồn nhất đến giữa những dòng nước mắt
Mắt đen đã xanh hơn khi cảm thấy nỗi đau buồn.
Hai con mắt xanh thắm như hai mặt nước hồ
Làm tái hiện sự diệu kỳ trong cái ngày Đạo sĩ
Đã bồi hồi khi nhìn thấy ngôi nhà của Chúa
Và ba áo choàng treo trên máng cỏ Mẹ Maria.
Chỉ cần một bờ môi là đủ cho cả mùa xuân
Để nói lên những lời, để hát lên bao câu hát
Nhưng cả triệu triệu ngôi sao, một bầu trời quá chật
Cần đôi mắt em, cần những bí mật của mắt em.
Khi đứa bé nhìn tấm hình, nó mới lạ lùng chưa
Đôi mắt nó mở to nhưng cũng không đến nỗi
Như đôi mắt em, không biết rằng em có dối
Đôi mắt mở ra như hoa dại nở dưới mưa. 
Tia chớp ẩn mình trong oải hương lấp lánh
Nơi lũ côn trùng đang chối bỏ yêu thương
Giữa bao vì tinh tú anh đánh mất con đường
Như người thủy thủ chết chìm trong tháng tám.
Anh lấy ra từ quặng mỏ chất ra-đi-um
Dù cho bàn tay anh bị thiêu trong lửa cháy
Một trăm lần thiên đường đánh mất rồi trở lại
Đôi mắt em là Peru, là Ấn Độ, Hồng Kông.
Và nếu như một ngày vũ trụ nổ tung ra
Và con tàu của anh mắc kẹt vào bãi đá
Thì anh sẽ vẫn thấy sáng ngời trên biển cả
Đôi mắt Enxa, đôi mắt Enxa, đôi mắt Enxa.

*Bảy nỗi đau của Đức Mẹ - 1. Giêsu cắt bao qui đầu. 2. Hành trình đế Ai Cập. 3. Giêsu 12 tuổi bị lạc trong đền. 4. Giêsu vác thập ác lên Can-vê. 5. Giêsu bị đóng đinh. 6. Hạ xác Giêsu xuống khỏi thập ác. 7. An táng Giêsu trong mộ.
NGỦ CHUNG
Dù buổi tối, buổi đêm, buổi sáng, buổi chiều
Dù thiên đàng hay ở nơi địa ngục 
Dù ngày thứ hai hay ngày chủ nhật
Hai đứa mình vẫn sống để mà yêu.
Ngày hôm qua anh đã nói với em
Rằng chúng mình sẽ ngủ chung em nhé
Ngày hôm qua, rồi ngày mai vẫn thế
Không nơi nao anh còn phải đi tìm. 
Anh đặt tim mình vào bàn tay em
Hai con tim sẽ hòa chung nhịp đập
Dù thời gian trên đầu ta bay lướt
Thì hai đứa mình vẫn cứ ngủ chung.
Thời gian trôi vẫn đằm thắm cuộc tình
Tấm màn che trên đầu ta vẫn sáng
Anh ôm em vào lòng rất đằm thắm
Và yêu em, như ngày ấy, vẫn run.
Đến một ngày em còn nói rằng yêu
Thì chúng mình sẽ còn ngủ với nhau.
François Villon (tên thật là François de Montcorbier hoặc François des Loges - sinh khoảng năm 1431 hoặc 1432, mất khoảng sau năm 1463, trước năm 1491) là nhà thơ lớn cuối cùng của thơ ca Trung cổ Pháp. François Villon còn nổi tiếng là một tên đạo chích, một kẻ lãng du, là nhà thơ thiên tài của nhiều bài thơ nổi tiếng. Câu hỏi "Mais où sont les neiges d'antan?" (But where are the snows of yesteryear? - Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa?) từ bài Ballade des dames du temps jadis (The Ballad of Yesterday's Belles – Bài thơ về những người đẹp ngày xa) do Dante Gabriel Rossetti dịch sang tiếng Anh đã trở thành một câu truyền miệng yêu thích nhất xưa nay trong thế giới Anh ngữ.
Tiểu sử:
Về cuộc đời của François Villon – chủ yếu là qua những phỏng đoán và truyền thuyết. Ta biết rằng François Villon sinh ở Paris. Mồ côi năm lên 8 tuổi, được linh mục Guillaume de Villon – người mà nhà thơ coi là “còn hơn cả bố” (plus que père) – nhận làm con nuôi. Năm lên 12 tuổi vào học khoa dự bị Đại học Paris và đến năm 1449 nhận bằng cử nhân, năm 1452 nhận bằng thạc sĩ. Cuộc sống sinh viên khốn khó của nước Pháp thời Chiến tranh trăm năm ( tiếng Anh: Hundred Years' War, tiếng Pháp: Guerre de Cent Ans) khiến Villon dễ bị lôi kéo tham gia vào thế giới tội phạm.
Ngày mồng 5 tháng 6 năm 1455 trong một vụ đánh nhau vì phụ nữ, Villon đã đâm linh mục Philippe Chermoye bị thương nặng sau đó dẫn đến cái chết của vị linh mục này. Villon phải bỏ trốn khỏi Paris, mặc dù tòa án sau đấy không kết tội Villon vì cho rằng đấy là hành động để tự vệ và chính nạn nhân cũng thừa nhận mình là người có lỗi. Bảy tháng lang thang trong cảnh không tiền, Villon tiếp xúc với nhiều nhóm tội phạm và tham gia vào 2 vụ trộm. Trở về Paris, Villon cùng 3 tên trộm khác trộm của trường Collège de Navarre trong đêm trước Giáng sinh 500 đồng tiền vàng và ngay sau đấy liền bỏ trốn khỏi Paris. Ngay sau vụ trộm trong đêm trước Giáng sinh này Villon đã sáng tác Le petit testament (Chúc thư nhỏ). Vụ trộm này sau đó được tìm ra nên Villon không thể quay lại Paris. Từ đây bắt đầu một thời kỳ phiêu bạt của ông từ la Manche ở phía bắc nước Pháp cho đến Roussillon ở Địa trung hải. Một thời gian Villon ở lại dinh cơ của nhà thơ, bá tước Charles d'Orléans. Nhà thơ, bá tước tổ chức một cuộc thi thơ về chủ đề: “Chết khát bên bờ suối”. François Villon viết bài thơ Ballade du concours de Blois (Bài ballade về cuộc thi thơ ở Blois) sau này nổi tiếng cả với tên Ballade des Contradictions (Bài ballade của những mâu thuẫn). Theo thể lệ cuộc thi các nhà thơ cần viết một bài thơ có tính chất khôi hài, vui nhộn nhưng bài thơ của Francois Villon thì lại đầy chất triết lý và bi kịch:
Tôi khổ sở chết khát bên bờ suối
Tôi cười qua nước mắt, làm việc khi chơi
Dù đi đâu – khắp chốn đều nhà tôi
Quê hương tôi – là vương quốc xa lạ
Tôi không biết gì, và tôi biết cả.
Tôi dễ gần, tôi rất hiểu những ai
Gọi thiên nga là quạ đen giữa trời.
Tôi nghi cái thực, tin điều kỳ lạ
Trần như nhộng, áo quần như vua chúa.
Được đón chào và bị đuổi khắp nơi.
Tôi keo kiệt, tiêu hoang trong mọi thứ
Tôi đợi chờ mà chẳng đợi điều chi
Thiên đường không vui bằng nước mắt kia
Tôi nghèo xơ và tôi khoe của nả
Thấy hoa hồng khi run vì băng giá
Tôi nhóm lửa mà run rẩy trong người
Chỉ giá băng sưởi ấm được lòng tôi.
Nhớ câu đùa và bỗng nhiên quên hết
Ai đáng trọng và ai cần khinh miệt.
Được đón chào và bị đuổi khắp nơi.
Tôi nhìn rõ những ngôi sao giữa trời
Nhưng không thấy ai đi ngoài cửa sổ
Tôi thức ban đêm, chỉ ngày tôi ngủ.
Tôi bước đi trên mặt đất dè chừng
Không tin cột mốc, chỉ tin màn sương.
Người điếc nghe ra lời tôi và hiểu
Tôi biết rằng mật đắng hơn ngải cứu
Đâu dối gian, đâu sự thật ở đời
Không nhớ gì và nhớ tất mọi thứ
Được đón chào và bị đuổi khắp nơi
Không biết giờ dài hơn - hay năm tháng
Lội qua sông hay bơi qua biển lớn?
Tôi đi về địa ngục từ bầu trời.
Tuyện vọng đem về cho tôi hy vọng.
Được đón chào và bị đuổi khắp nơi.

Mùa hè năm 1460 Villon đang ở trong tù và chờ ngày bị tử hình thì được thả nhờ một chuyến viếng thăm Orleans của gia đình bá tước trong một dịp lễ. Tháng 10 năm 1462 Villon bị giam ở nhà tù Maine-et-Loire cũng được phóng thích nhờ vào dịp nhà vua Louis XI đi qua đây. Cuối năm này ông quay trở về Paris vì đã cảm thấy yếu sức. Thời gian cuối của cuộc đời ông đã viết những tác phẩm có giá trị nhất như Epitaphe, Le grand testament… 
Tháng 11 năm 1463 Villon lại bị bắt vì bị nghi ăn trộm nhưng sau đó mấy ngày được thả vì không có chứng cứ. Cũng trong thời gian này xảy ra một vụ ẩu đả và một viên chưởng khế bị thương nặng, mặc dù không trực tiếp tham gia nhưng Villon vẫn bị bắt vào tù và bị kết án treo cổ (trong tù Villon viết bài ballade về người bị treo cổ và một số bài thơ tứ tuyệt). Ba ngày sau đó Villon trốn được khỏi tù và tiếp tục phiêu du nhưng từ đây dấu tích không một ai rõ. Biên bản của tòa thị chính thành phố Paris ngày 5 tháng 1 năm 1463 là văn bản cuối cùng về François Villon. 
Ảnh hưởng của François Villon:
- Cuốn thơ trữ tình đầu tiên ở nước Pháp in bằng máy in là cuốn thơ của François Villon.
- François Villon có sự ảnh hưởng đến các nhà thơ nhà văn hậu Trung cổ, đầu Phục hưng và về sau như Clément Marot, François Rabelais rồi đến Jean de La Fontaine, Moliere, Paul Verlaine, Tristan Corbière, Robert Louis Stevenson, Ezra Pound… 
- François Rabelais trong tiểu thuyết La vie très horrifique du grand Gargantua, père de Pantagruel (Chuyện về cuộc đời kinh hoàng của Gargantua vĩ đại, bố của Pantagruel) dẫn hai chi tiết trong cuộc đời của Villon – anh hề ở cung điện của nhà vua Anh và người dựng kịch ở Poitou-Charentes. Khi người ta hỏi nhân vật Panurge rằng gia tài đồ sộ xưa của ông giờ ở đâu thì Panurge trả lời: “Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa? – đấy là vấn đề cốt lõi đã từng hành hạ nhà thơ Villon suốt đời”.
- Robert Louis Stevenson viết tác phẩm A Lodging for the Night: A Story of Francis Villon.
- Nhà văn Edschmid viết tác phẩm Herzogin về Francois Villon. 
- Nhà văn F. Karko viết Le Roman de François Villon – Câu chuyện cay đắng của cuộc đời Francois Villon.
- Nhạc sĩ ca sĩ Georges Brassens phổ nhạc một số bài thơ của François Villon, trong đó có “Ballade des dames du temps jadis” (Bài thơ về những người đẹp ngày xa).
- Nhạc sĩ, ca sĩ Bulat Okudzhava sáng tác bài hát Молитва Франсуа Вийона (The Prayer of Francois Villon - Lời cầu nguyện của François Villon). 
- Nhạc sĩ, ca sĩ Karl Wolf Biermann viết bài ballade về Villon: Ballade auf den Dichter Francois Villon. 
Một số tác phẩm:
- Ballad tục ngữ ( Ballade des proverbes)
- Ballad của những dấu hiệu (Ballade des menus propos)
- Ballad về những người đẹp ngày xa (Ballade des Dames du temps jadis)
- Ballad bằng tiếng Pháp cổ (Ballade en vieil langage françois)
- Ballad đôi (Double ballade)
- Ballad cho bạn gái (Ballade à s'amie)
- Ballad và cầu nguyện (Ballade et oraison)
- Ballad răn dạy ( Ballade de bonne doctrine à ceux de mauvaise vie)
- Ballad bia mộ (Épitaphe)
- Ballad cuối (Ballade finale) 

BÀI THƠ VỀ 
NHỮNG NGƯỜI ĐẸP NGÀY XA
Hãy nói ta nghe giờ ở nơi nào 
Người đẹp Flora của dân La Mã
Nàng Archipiades, và cả nàng Thaïs nữa
Sắc đẹp tuyệt trần, những tiếng vọng giờ đâu?
Câu trả lời nghe mới lạ lùng sao
Như dội lại từ dòng sông, hồ nước
Những vẻ đẹp nhân từ, không tì vết?
Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa?
Nàng Héloïs uyên bác ấy đâu giờ 
Chàng Pierre Esbaillart ở Saint Denis tội nghiệp
Đã vì nàng mà chịu tu trọn kiếp
Vì yêu mà đau khổ tự ngày thơ.
Và bà hoàng giận dữ ấy đâu giờ 
Người sai bỏ Buridan vào túi
Rồi ném xuống dòng sông Seine nước chảy?
Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa?
Hoàng hậu trắng như hoa huệ làn da
Và giọng hát ngọt ngào như chim hót
Bàn chân to Berthe, Bietris, Alis
Và Haremburgis lãnh chúa xứ Maine
Cô gái Jeanne người vùng Lorraine
Bị quân Anh ở Rouen thiêu sống
Họ giờ đâu, những nữ hoàng trinh trắng?
Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa?
Hoàng tử ơi đừng tra hỏi vẩn vơ
Qui luật của cuộc đời là thế đấy.
Chỉ còn lại điệp khúc này nhắc mãi:
Nhưng đâu rồi những bông tuyết ngày xưa?.

Joachim du Bellay 

(1522 – 1 tháng 1 năm 1560) - nhà thơ Pháp, thành viên nhóm Pléiade, được coi là một trong những nhà cải cách ngôn ngữ thơ ca Pháp thế kỷ XVI.
Tiểu sử
Joachim du Bellay sinh ở Lire, gần Angers (Pháp). Năm 1547 gặp Pierre de Ronsard, chủ soái nhóm Pléiade, đã từ chối chức vụ cao trong giáo hội để theo nghiệp thơ ca. Ông là tác giả của tác phẩm nổi tiếng: "La défense et l’illustration de la langue française" (Bảo vệ và phát triển tiếng Pháp), được coi là tuyên ngôn của nhóm Pléiade. Tác phẩm này đề ra phương hướng phát triển của thơ ca mới, phê phán thứ thơ bắt chước phong cách các nhà thơ cổ và sử dụng ngôn ngữ Latin. 
Joachim du Bellay là nhà thơ có công lớn trong việc làm giàu ngôn ngữ thơ ca Pháp, trong việc sáng tạo ra những thể loại thơ mới như ode, bi ca, sử thi… Ông cũng là tác giả của tác phẩm thơ châm biếm đầu tiên trong thơ Pháp: "Le poète courtisan".
Tuy vậy, nhiều tác phẩm của Joachim du Bellay vẫn ngược lại với lý thuyết mà ông đề cao. Người ta vẫn chỉ ra nhiều chỗ ông mô phỏng thơ cổ và sử dụng ngôn ngữ thơ Latin trong những tác phẩm đáng kể nhất. Đây cũng là đặc điểm của cả nhóm Pléiade.
Joachim du Bellay mất ở Paris năm 38 tuổi.
Tác phẩm:
- Ô-liu (L’Olive, Recueil de poesies, 1549), thơ 
- Thơ trữ tình (Vers lyriques), thơ 
- Poemata (Poemata) tập thơ bằng tiếng Latin 
- Nhà thơ cung đình (Pote courtisan, 1559), thơ châm biếm 
- Lời nói (Discours), văn xuôi 
- Luyến tiếc (Regrets), văn xuôi
- Roma cổ đại (Antiquités), văn xuôi 
- Trò chơi dân dã (Divers jeux rustiques), văn xuôi 
- Giữ gìn và ca ngợi tiếng Pháp (La défense et l’illustration de la langue françoise), văn xuôi
Thư mục
*L’Olive, Recueil de poésies
*Divers poèmes
*Les amours
*Antiquités de Rome
*Les Regrets; Jeux rustiques
*La défense et l’illustration de la langue françoise, choix, notice biographique et bibliographique par A. Séché, 1908
*Divers jeux rustiques et autres œuvres politiques, publ. sur l’éd. originale de 1558 et augm. des lettres de l’auteur avec notice de G. Colletet, bibliographie et notes par A. van Bever, 1912
*Œuvres poétiques, 5 vv., publ. par H. Chamard, 1919-1923 (Société des Textes Français Modernes)
*Divers jeux rustiques, éd. crit., publ. par H. Chamard, 1923.
Sonnê XXXV
Ông thầy thuốc chữa cơn sốt run
Bằng cách đắp lên người khăn ấm
Còn cơn sốt tình yêu khô và nóng
Chỉ dịu đi khi thỏ thẻ với tình.
Bếp lửa cháy em thổi nước vào trong
Thì ngọn lửa càng bốc lên vùn vụt
Ngọn lửa kia nếu em muốn dập
Cần phải đem dội nước bằng thùng.
Trong tình yêu bằng cách ấy được chăng?
Anh đã từng thử bằng cách như vậy
Tại vì sao không được hở ma Dame.
Càng cố sức dập ngọn lửa tình
Thì anh càng yêu em say đắm
Và không muốn ai dập lửa giùm anh!

XCI
Hãy trả lại cho vàng màu sắc
Màu sắc từng say đắm lòng tôi
Hãy trả về cho phương Đông châu ngọc
Tia sáng của mắt trả lại mặt trời.
Trả cho hoạ sĩ – nét mặt đầy bí ẩn
Cho Diana – bộ ngực, đôi má - thần bình minh
Trả cho thần chiến tranh – vầng trán rộng
Trả lại Eva – lời di huấn tinh ranh.
Ngọn lửa tình yêu hãy trả lại cho tình
Cho thần sắc đẹp – vẻ tuyệt vời hình thể
Trả cho những bầu trời – vẻ hoàn mỹ.
Trả cho san hô cái miệng màu xanh
Trả về cho đá - như đá những con tim
Vẻ quỉ quyệt màu đen – trả về cho sư tử.

XCVII
Trong nắng hè tuyệt đẹp hoa hồng
Khi hoa trắng trong như tuyết
Và nhẹ nhàng toả ra hơi mát
Trên cành, từ vết cắt màu xanh.
Màu trắng này tất cả đều thở bằng
Tất cả cúi đầu trước hoa cảm tạ
Khẽ chạm vào cành hoa con thú sợ
Thế là con thú chạy vòng quanh.
Nhưng người ta đem bẻ cành hoa
Thì hoa buồn bã, não nề
Rồi hoa trở về cát bụi…
Bông hoa của tôi người ta đoạt lấy
Còn tôi bay trong mộng, trong mơ
Chốn xa xôi, rồi kết thúc trong thơ.
Gérard de Nerval (tên thật là Gérard Labrunie, 22 tháng 5 năm 1808 – 26 tháng 1 năm 1855) là nhà thơ, nhà soạn kịch, dịch giả, nhà văn Pháp, một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của trào lưu chủ nghĩa lãng mạng Pháp. 
Tiểu sử:
Gérard de Nerval sinh ở Paris. Bố là bác sĩ quân y trong quân đội Napoleon. Học phổ thông ở trường Charlemagne, nơi có nhiều bạn bè sau này là những nhà thơ nhà văn của thập niên 1830. Từ những ngày đầu tiên của văn nghiệp Nerval đã kết bạn với Théophile Gautier và Victor Hugo, in những bài thơ đầu tay trong tập sách Napoleon và nước Pháp vinh quang. Cũng trong năm 1826 in phần đầu bản dịch Faust của Johann Wolfgang von Goethe) và được chính Goethe khen ngợi. Từ năm 1830 ông tham gia nhiều nhóm văn chương và bắt đầu viết kịch. Mặc dù có sự hợp tác với Alexandre Dumas (cha) nhưng Nerval vẫn chưa có vở kịch nào thật sự thành công ở giai đoạn này. 
Sau khi người yêu của bỏ đi lấy chồng, Narval đã bỏ nhà đi lang thang phiêu bạt trong nhiều năm và chính trong quãng thời gian này ông viết được nhiều cuốn sách hay. Sau khi trở lại Paris Nerval mắc chứng bệnh về thần kinh, thường xuyên có ý tưởng quyên sinh. Chuyện kể rằng lần đầu tiên nhìn thấy sông Danube xinh đẹp, Nerval đã thốt lên: «Trời ơi, một nơi tuyệt vời để mà tự tử!». Những năm cuối đời Nerval sống trong cảnh nghèo khó. Ông treo cổ chết trên một cột đèn đường phố ở Paris ngày 26 tháng 1 năm 1855. 
Khi còn sống, ông chỉ mới in được một số bài thơ ở các tạp chí hoặc in kèm trong các cuốn văn xuôi. Tập thơ đầu tiên, nơi người đọc có thể cảm nhận được tài năng thơ của Nerval chỉ được in vào năm 1877. Tác phẩm của Gérard de Nerval hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt. 
Tác phẩm:
- Napoleon và nước Pháp vinh quang (Napoléon et la France guerrière, 1826)
- Cảnh đời sống phương Đông (Scènes de la vie orientale), 1846
- Những dòng thơ Đức (Poésies allemandes», 1830 
- Phê phán Faust (La damnation de Faust», 1846)
- Hành trình đến phương Đông (Voyage en Orient, 1851)
- Những cô gái lửa (Les filles de feu, 1854)
- Sylvie, 1853)
- Aurélia, 1855) 
- Ước mơ và đời thực (Le rêve et la vie, 1855)
- Bohemian hữu tình (La bohême galante», 1855)
- Toàn tập tác phẩm Œuvres complètes. , 6 Bde., Paris 1926-1932
- Toàn tập tác phẩm (Œuvres complètes.. 6 Bde., Paris 1867-1877
Một số bài thơ:
Cuồng tưởng
Có giai điệu mà tôi đây sẵn sàng
Đem Rossini, Mozart, Weber ra đánh đổi
Giai điệu cổ buồn thương và tăm tối
Không hiểu sao lại quyến rũ vô cùng.
Mỗi lần nghe thấy trẻ lại trong hồn
Dường như cả hai trăm năm có lẻ
Thời vua Louis mười ba, và tôi nhớ
Cánh đồng xanh, hoàng hôn rực ánh vàng.
Tiếp theo, lâu đài gạch, đá ốp tường 
Những ô kính phong sương màu đỏ sẫm
Con sông nhỏ chảy giữa công viên rộng
Giữa bao hoa, nước mát tắm bàn chân.
Từ cửa sổ cao có bà mắt huyền
Mái tóc đen, bà mặc quần áo cổ
Hình như kiếp trước đã quen đâu đó
Từng gặp rồi… giờ bỗng nhớ ra chăng. 

Thơ mộ chí
Ông sống hết đời mình, vui như một con chim
Đã buồn bã, yêu thương, đã từng vô tư lự
Đã như mọi người, đã không như ai cả
Thế rồi thần chết về gõ cửa một hôm.
Ông cầu xin thần chết cho một chút rình rang
Để ông kịp viết cho xong một bài thơ cuối
Rồi sau đó ông nằm vào quan tài tăm tối
Đặt đôi bàn tay lên ngực lạnh, và run. 
Ông đã lười biếng kể câu chuyện mông lung
Rồi ông đã ra đi, để mực khô trong lọ
Muốn biết nhiều mà chẳng biết gì hết cả.
Và đến khi mệt mỏi với đời sống vô thường
Một buổi tối mùa đông, linh hồn ông hớn hở
Ông tự hỏi: “Ta đến đây để làm gì cơ chứ?” 

Delfica* 
Dafné**, em còn nhớ câu chuyện cổ thần tiên
Bên bụi ô-liu, dưới gốc ngô đồng
Bên cây liễu rủ, bên vòng hoa trắng 
Bài hát tình yêu nghe biết bao lần?... 
Em đã nhận ra nơi có ngôi đền
Hành lang rộng, trong giây phút thần tiên
Và nhìn thấy con rồng trong hang rộng
Làm khiếp kinh biết bao ánh mắt nhìn… 
Họ sẽ quay về - thần thánh thiêng liêng! 
Lời tiên tri còn mãi giữa trần gian 
Vẻ lo lắng vẫn bao trùm mặt đất… 
Và Sibylae với khuôn mặt Latin 
Ngủ mơ màng dưới vòm Constantin
Mà chẳng quấy rầy những vòm nghiêm khắc. 

*Delphica (tiếng Latin) - thuộc về địa điểm khảo cổ, là một thành phố cổ ở Hy Lạp, vùng đất thiêng thời cổ đại, hiện là một thị trấn thuộc vùng Phocis, miền trung Hy Lạp. 
*Δάφνη (tiếng Hy lạp), Daphne (tiếng Anh),- nhân vật nữ trong thần thoại Hy Lạp, tình yêu đơn phương của thần Apollo, người đã biến thành cây nguyệt quế để chạy trốn khỏi tình yêu này. 
Jacques Romain Georges Brel

 (8 tháng 4 năm 1929 - 9 tháng 10 năm 1978) là nghệ sĩ, nhà thơ Bỉ sáng tác bằng tiếng Pháp.
Tiểu sử:
Jacques Brel sinh ở Schaarbeek, Bỉ. Từ những ngày học ở trường phổ thông đã rất mê diễn kịch. Năm 1951 Jacques Brel cưới vợ và có một con gái. Từ năm 1952 bắt đầu sáng tác những bài hát cho những buổi dạ hội. Năm 1953 ra đĩa hát dầu tiên. Năm 1953 Jacques Brel sang Paris theo lời mời của Jacques Canneti, người đáng giá cao tài năng của Brel qua những bài hát do ông sáng tác. Năm 1955, cả vợ và con gái cùng chuyển sang sống cùng Brel ở Paris. 
Năm 1956 Jacques Brel bắt đầu cộng tác với các nghệ sĩ Gérard Jouannest và Francois Rauber, biểu diễn trong các buổi hòa nhạc. Từ năm 1958 thường xuyên biểu diễn ở các nhà hát uy tín nhất của Paris. Năm 1966 Jacques Brel quyết định rời sân khấu. Ngày 16 tháng 5 năm 1967 ông tổ chức buổi hoà nhạc chia tay.
Từ năm 1967 Jacques Brel chuyển sang đóng phim và đạo diễn phim. Với điện ảnh, Jacques Brel cũng đạt đến đỉnh cao với nhiều bộ phim nổi tiếng do ông đóng vai chính. Nhiều bộ phim do ông đạo diễn cũng được đánh giá cao. Ngoài âm nhạc (chủ yếu nổi tiếng là một người viết phần lời xuất sắc) và điện ảnh, Jacques Brel còn là một nhà thơ nổi tiếng của Bỉ và Pháp. Ông mất ở Bobigny, ngoại ô Paris sau một thời gian bị bệnh kéo dài và mai táng tại đảo Marquesas.
Tác phẩm:
Đĩa hát:
*1953: Đĩa hát đầu tiên: La Foire/Il y a
*1954: Anbom đầu tiên: Jacques Brel et ses chansons
*1957: Quand on n’a que l’amour, Heureux Pardons,…
*1958: Je ne sais pas, Au printemps,…
*1958: Đĩa cho tạp chí Marie-Claire, Gồm các bài L’introduction à la Nativité và L'Évangile selon saint Luc
*1959: La valse à mille temps, Ne me quitte pas, Je t’aime, Isabelle, La mort, …
*1961: Marieke, Le moribond,…
*1962: Hoà nhạc tháng 10-1961
*1963: Les Bigotes, Les vieux, La Fanette,…
*1964: Jef, Les bonbons, Mathilde,…
*1965: Ces gens-là, Fernand,…
*1967: 67 comprenant Mon enfance, À jeun,…
*1968: Vesoul, L'éclusier,…
*1970: L’Homme de la Mancha
*1972: Ghi âm mới những bài hát cũ
*1977: Les Marquises
*1988: Jacques Brel - l’intégrale (10 CD)
*2003: Jacques Brel - l’intégrale (15 CD)
Phim:
*1968: Les risques du métier d'André Cayatte
*1968: La bande à Bonnot de Philippe Fourastié
*1969: Mon oncle Benjamin d'Édouard Molinaro
*1970: Mont-Dragon de Jean Valère
*1971: Les assassins de l’ordre de Marcel Carné
*1971: Franz
*1972: L’aventure c’est l’aventure de Claude Lelouch
*1972: Le bar de la Fourche d'Alain Levent
*1972: Le Far-West
*1973: L’emmerdeur d'Édouard Molinaro
NẾU BẠN CẦN
Bạn không hiểu gì.
Nếu bạn cần những con tàu để đi xa đâu đấy vì may mắn
Và nếu bạn cần con tàu trắng để bay về những xứ sở xa xăm
Để đi tìm bầu trời xanh mà hồn bạn đang khóc và than vãn
Hay tìm những bài ca hạnh phúc mà bạn có thể hát lên
Thì…
Nếu bạn cần ban mai để ngày mai bạn sẽ lại tin
Và ngày mai, để ngày mai mang về cho sức mạnh
Và trả về cho bạn niềm hy vọng đã mất rất lạ lùng
Và trả cho bạn bàn tay thủy chung mà bạn từng thả lỏng
Thì…
Nếu bạn cần những lời từng chép trong sách cổ
Để tìm sự thanh minh cho lời nói của mình
Và để thơ ca đối với bạn là một trò chơi chữ
Và tất cả cuộc đời bạn từ nay sẽ già hom
Thì…
Nếu bạn cần nỗi buồn để làm một quả mìn thông minh
Và cần tiếng ồn đường phố để giọng nói của lương tâm lấn át
Và cần những yếu đuối nhỏ nhặt để ra vẻ dịu dàng
Và cả những cơn giận dữ để cho mạnh mẽ và rắn chắc
Thì…
Thì bạn không hiểu gì.

LỜI CẦU KHẨN
Em là ngọn cờ, là hy vọng, là ánh sáng
Là lòng tin, là cơn nóng của tim
Em là bếp lửa trong đêm giá lạnh
Em – là chiếc chén Thánh của anh.
Em là đam mê, là khao khát, là đêm
Em là quyền lực, em là luật pháp
Em là hoa, là bánh mỳ, mật ngọt
Em là đất cày, là cày cuốc của anh.
Em là mặt trời, là sóng trắng, cánh buồm
Em là tiếng đàn, là bài ca dịu ngọt
Em là rượu, là tiếng cười, nước mắt
Em là con đường trong cuộc sống của anh.
Em là ngọn cờ, là ánh sáng của anh
Cơn nóng của tim, em là ngọn lửa
Em là máu, là thịt xương anh đó
Hãy quay về, anh vẫn đợi chờ em!..
Jean Nicolas Arthur Rimbaud (20 tháng 10 năm 1854 – 10 tháng 11 năm 1891) – nhà thơ Pháp, một trong những người sáng lập trường phái ấn tượng, là nhà thơ có ảnh hưởng lớn tới văn học và nghệ thuật hiện đại.
Tiểu sử:
Arthur Rimbaud sinh ở Charleville (nay là Charleville-Mézières), miền đông bắc nước Pháp. Bố là Frédéric Rimbaud, một sĩ quan phục vụ ở Algeria, mẹ là Vitalie Cuif, xuất thân từ một gia đình nông dân. Bố mẹ chia tay nhau khi Arthur Rimbaud mới 4 tuổi nên sự giáo dục chủ yếu là từ mẹ. Thời kỳ học ở trường tiểu học đã nổi tiếng học giỏi tiếng Hy Lạp, tiếng Latin và các môn: lịch sử, địa lý. Năm 1865 vào học trường Colege Charleville là một trong những học sinh xuất sắc nhất của trường. Năm 1869 lần đầu tiên in ba bài thơ viết bằng tiếng Latin Xuân đã về (Ver erat), Thiên thần và đứa bé (L’Ange et l’enfant), Jugurtha (Jugurtha). Bài thơJugurtha được tặng giải nhất trong một cuộc thi thơ. Năm 1870, lên 16 tuổi Rimbaud in những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Pháp, sau đó đi du lịch lên miền bắc nước Pháp và Bỉ. Ở Paris, Arthur Rimbaud làm quen và trở thành người yêu của Paul Verlaine, làm xôn xao dư luận Paris. Rimbaud tham gia Công xã Paris. Năm 1872, Verlaine bỏ gia đình cùng Rimbaud đi sang London. Khi trở về Bỉ, hai người cãi nhau, Verlaine dùng súng lục bắn Rimbaud bị thương phải vào tù 2 năm, còn Rimbaud trở về quê Charleville.
Kể từ đây cuộc đời của Rimbaud sang một trang mới, ông bỏ làm thơ hẳn và đi chu du hầu như khắp thế giới. Năm 1875 sang Đức, hết tiền phải đi bộ sang Milan, (Ý), sau đó ốm nặng phải quay về Pháp. Năm 1876 sang Áo, bị trục xuất, ông quay sang Hà Lan tham gia đội quân lê dương đi sang Indonesia. Ba tuần sau theo tàu chiến Anh trở về quê, sau đó sang Đức, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ… Từ năm 1880 ông sang các nước châu Phi (Ai Cập, Ethiopia, Yemen) buôn súng, buôn cà phê và da thú. Tháng 2 năm 1891 bị bệnh phải quay trở về Pháp, đến tháng 10 ông qua đời ở Marseille vào tuổi 37.
Mặc dù sống một cuộc đời ngắn ngủi (thời gian sáng tác lại càng ngắn) nhưng Arthur Rimbaud đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp. Ông là người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ, hình tượng cũng như thể loại thơ ca… Nửa cuối thế kỷ XX Arthur Rimbaud trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng. Hình tượng Rimbaud được thể hiện qua rất nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.
Tác phẩm:
*Poésies (Thơ)
*Le bateau ivre (Con tàu say, 1871)
*Une Saison en Enfer (Một mùa hè ở địa ngục, 1873)
*Illuminations (Linh cảm, 1874)
*Lettres (Thư từ)
Thư mục:
*Œuvres, [2 éd.], P., [1964]
*Œuvres, P., [1966]
*Е tiemble R. et GaucIere Y., Rimbaud, P., 1950
*Fowlie W., Rimbaud. [A critical study], Ch. - L., [1967]
*Gascar P., Rimbaud et la Commune, [P., 1971]; "Europe", 1973, № 529-30.

CẢM TƯỞNG
Buổi chiều xanh, trên những con đường nhỏ
Rảo bước chân trên hoa cỏ nhẹ nhàng
Mơ ước trong đầu, trên tóc ngọn gió
Tôi nhận ra hơi mát dưới bàn chân.
Không nghĩ suy, không lời trên môi lặng
Nhưng con tim yêu hết thảy trên đời
Và ngọt ngào trong hoàng hôn thơ thẩn
Thiên nhiên tựa hồ như người đẹp cùng tôi.

OPHÉLIE
I
Trên mặt nước ngôi sao ngủ mơ màng
Ophelie bồng bềnh như huệ trắng
Quấn khăn dài và nàng trôi chầm chậm
Giữa tiếng tù và của những thợ săn. 
Như bóng ma màu trắng đã nghìn năm
Trên dòng sông đen, Ophelie nàng hỡi
Từ nghìn năm tiếng hát đã lặng ngừng
Vẻ điên dại đã bao trùm đêm tối. 
Cơn gió nhẹ hôn ngực nàng lặng lẽ
Nước thì thầm, như mở những cánh hoa
Những cây liễu khóc thầm trong buồn bã
Sậy cúi mình trên vầng trán ước mơ. 
Hoa loa kèn thở dài trên mặt nước
Tổ chim đang rung nhẹ trên cành cây
Đến gặp nàng chim vỗ nhẹ cánh bay
Ngôi sao vàng gửi về bao câu hát.

II 
Ophelie đẹp tuyệt vời như tuyết
Đã chết đời tuổi trẻ giữa dòng sông
Từ núi đồi Na-Uy trận cuồng phong
Ca lời tự do cho nàng siêu thoát. 
Cơn gió thổi làm rung làn tóc rối
Trong cơn mơ nghe những tiếng lạ lùng
Con tim nàng nghe giọng của Thiên nhiên
Trong lời than của đêm và cây cối. 
Lời của biển cũng vang lên sau đấy
Vỡ tan rồi tim trẻ dại thơ ngây
Sáng tháng Tư chàng kỵ sĩ đẹp trai
Ngồi im lặng bên nàng như ngây dại.
Tình yêu! Tự do! Những giấc mộng điên cuồng
Trước lửa bỏng nàng tan ra như tuyết
Những cái nhìn lạ lùng kia đã giết
Đôi mắt xanh đã khép lại muôn năm.

III
Thi sĩ nói sao trên trời đã run
Khi nàng ngắt bông hoa trên bờ vắng
Chàng đã thấy Ophelie bồng bềnh
Trên mặt nước im lìm như huệ trắng.

NHỮNG NGUYÊN ÂM
A – đen, E – trắng, I – đỏ, O – xanh
U – da trời. Nguồn gốc những nguyên âm
Tôi sẽ mở… A – như bầy ruồi bẩn thỉu
Trên đống mùi khó chịu, chúng bay quanh. 
E – là màu trắng của những tảng băng
Của lều trại, của mây trắng trên đồng
I – là màu hồng của nụ cười xinh đẹp
Khi máu sôi trong cơn giận kinh hoàng.
U – là chu kỳ của con sóng màu xanh. 
Thú trên đồng cỏ, nếp nhăn yên bình
Thuật giả kim in dấu trên trán rộng. 
O – là tiếng kèn cuối vang lên lạ lùng
Cả thế giới, thiên thần trong im lặng
Omega, tia tím của mắt Nàng.

GIẤC MƠ NGHÈO
Có lẽ đang chờ ta
Thành phố già đâu đó
Để đến sáng ta sẽ
Lặng lẽ uống và chờ
Cái chết giờ đâu đó.
Cơn đau đã dịu đi
Tiền vẫn còn chút ít
Đường ngược lên phương Bắc
Hay xuôi về phương Nam
Ôi, giấc mơ què quặt.
Nhân lên những mất mát
Lần nữa ta trở thành
Kẻ phiêu bạt, lang thang
Nhưng người ta đóng chặt
Cửa quán rượu màu xanh.
Paul-Marie Verlaine (30 tháng 3 năm 1844 – 8 tháng 1 năm 1896) – nhà thơ Pháp, một trong những nhà thơ lớn của Pháp thế kỷ XIX.
Tiểu sử:
Paul-Marie Verlaine sinh ở Metz. Bố là kỹ sư xây dựng trong quân đội, mẹ xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả. Năm 1851 gia đình chuyển về Paris. Năm 1855 Verlaine vào học trường lycee Bonapart ở Paris và đã bộc lộ sự say mê thơ ca. Năm 1858 gửi cho Victor Hugo trường ca La Mort (Cái chết). Năm 1862 nhận bằng cử nhân hùng biện, cũng trong năm này vào học luật tại Đại học Sorbonne nhưng một thời gian sau bỏ học. Từ tháng 10 năm 1863 làm ở công ty bảo hiểm, sau đó vào làm ở tòa thị chính Paris, tham gia nhóm thơ Parnasse. Năm 1866 in cuốn sách đầu tiên Poemes saturniens chịu sự ảnh hưởng của nhóm Parnasse. Năm 1867 sang Brussele gặp Victor Hugo. Năm 1870 in tập thơ La bonne chanson (Bài ca tốt lành) tặng người yêu Mathilde Mauté. Sau khi chiến tranh Pháp – Phổ xảy ra, Verlaine phải vào lính nhưng thường xuyên lẩn tránh nghĩa vụ phải vào trại giam một tuần. Thời gian sau đó là những năm tháng tình ái với nhà thơ trẻ Arthur Rimbaud. Hai người đi sang Bỉ và Anh. Đây là quãng thời gian Verlaine viết những bài thơ hay nhất của mình. Năm 1874 in tập thơ Romances sans paroles (Những khúc lãng mạn không lời). Tháng 10 năm 1873 Verlaine cãi nhau với Rimbaud, dùng súng lục bắn vào tay Rimbaud bị vào tù hai năm và bị phạt 200 frans. 
Sau khi mãn hạn tù bị vợ và gia đình từ chối, Verlaine sang Anh dạy tiếng Pháp, dạy vẽ, làm gia sư. Năm 1882 trở về Pháp, sống và làm việc ở nhiều nơi. Năm 1894 được bầu là “Ông hoàng của các nhà thơ”. Năm 1895 viết bài giới thiệu cho “Tuyển tập tác phẩm Arthur Rimbaud”. Năm 1896 in cuốn sách cuối cùng La Mort (Cái chết). Ông mất ở Paris, mai táng tại nghĩa trang Cimetière de Batignolles, có ba ngàn người đến dự lễ tang.
Các nhà thơ phái ấn tượng gọi Verlaine là ông tổ của mình, còn nghệ thuật thi ca gọi Romances sans paroles của Verlaine là tuyên ngôn. Tuy vậy sự ảnh hưởng của Verlaine không chỉ giới hạn trong phạm vi một trường phái thơ. Verlaine là người sáng tạo một nghệ thuật thơ mới, phục hồi mối liên hệ với thơ ca dân gian, giữ gìn truyền thống nghệ thuật của thơ ca Pháp mà sau đấy được các nhà thơ lớn của Pháp trong thế kỷ XX tiếp tục.
Tác phẩm:
Thơ:
*Poèmes saturniens (1866)
*Les Amies (1867)
*Fêtes galantes (1869)
*La Bonne chanson (1870)
*Romances sans paroles (1874)
*Sagesse (1880)
*Jadis et naguère (1884)
*Amour (1888)
*Parallèlement (1889)
*Dédicaces (1890)
*Femmes (1890)
*Hombres (1891)
*Bonheur (1891)
*Chansons pour elle (1891)
*Liturgies intimes (1892)
*Élégies (1893)
*Odes en son honneur (1893)
*Dans les limbes (1894)
*Épigrammes (1894)
*Chair (1896)
*Invectives (1896)
*Biblio-sonnets (1913)
*Oeuvres oubliées (1926—1929)
Văn xuôi:
*Les Poètes maudits (1884)
*Louise Leclercq (1886)
*Les mémoires d’un veuf (1886)
*Mes hôpitaux (1891)
*Mes prisons (1893)
*Quinze jours en Hollande (1893)
*Vingt-sept biographies de poètes et littérateurs (parues dans «Les Hommes d’aujourd’hui»)
*Confessions (1895)
LA CHANSON DES INGÉNUES
Những mắt xanh thơ ngây
Từ trong câu chuyện cổ
Khăn xếp quấn trên đầu
Người đời không còn nhớ.
Ta thân thiết vô vàn
Ánh sáng ngày tinh khiết
Như bí ẩn kín thầm
Như màu xanh mơ ước.
Ta chạy ra đồi cây
Chỉ bóng đêm rơi xuống
Cùng chuyện trò, bắt bướm
Cười vui suốt cả ngày.
Đội trên đầu mũ rơm
Che cho ta ánh nắng
Vải áo quần nhẹ mỏng
Còn màu nào trắng hơn!
Caussades hay Richelieux
Hay chàng Faublas
Ta nghe tiếng thầm thì
Và những mắt mỏi mệt.
Nhưng thở than vô ích
Các chàng chỉ đứng nhìn
Những chiếc váy thì thầm
Lời mỉa mai chua chát.
Trêu tức vẻ hình dung
Những chàng trai tinh nghịch
Vẻ kiêu kỳ trinh bạch
Tránh lời nói dịu dàng.
Nhưng dù sao trong tim
Những ý nghĩ kín thầm
Ngày mai rồi yêu mến
Điều hú họa gì chăng.

THU CA
Mùa thu nức nở
Rót ra nỗi buồn
Và tiếng vĩ cầm
Cho lòng đau thắt.
Chất đầy trong ngực
Nỗi buồn cô đơn.
Nỗi buồn nặng hơn
Khi tiếng chuông ngân
Trong đêm vắng vẻ
Xao xuyến ngập lòng.
Nhớ về ngày cũ
Nước mắt trào dâng.
Ta chạy ra đồng
Hỡi cơn gió độc
Bao nhiêu mơ ước
Mi hãy cuốn phăng
Vào đêm tối mịt
Như chiếc lá vàng.

PHỤ NỮ VÀ MÈO
Phụ nữ chơi với mèo – trò chơi cổ điển
Như núi đồi với mũ trắng trên đầu
Thâu đêm suốt sáng, liên tục với nhau
Bàn tay trắng vuốt ve bàn chân trắng.
Một bên giận dữ, âm thầm bí ẩn
Khi vuốt ve vị chúa tể của mình
Giấu sau găng tay mềm mại tơ nhung
Là con dao mổ lẹ làng của móng.
Bên kia giấu vẻ dữ dằn sâu kín
Dịu dàng vuốt ve chúa tể của mình
Nhưng quỉ sứ ở nơi này trú ẩn.
Trong bóng đêm, giữa chăn êm gối ấm
Sau tiếng cười của phụ nữ vang lên
Bốn mắt lửa như lân tinh phát sáng.

ÁNH TRĂNG 
Hồn của trăng tinh tế tựa khu vườn
Nơi những mặt nạ lang thang thơ thẩn
Chúng múa may nhảy múa, đàn ngân tiếng
Nhưng trong mắt lấp lánh một nỗi buồn.
Tiếng nhạc u sầu cứ thế ngân lên
Chúng hát về tình yêu bằng điệu thứ
Không tin hạnh phúc, không tin gì cả
Những lời ca hòa nhập với ánh trăng.
Và ánh trăng lạnh lẽo, đẹp nhưng buồn
Trong mê man họa mi giờ im tiếng
Chỉ trong lòng gào lên từng đợt sóng
Giữa những tượng đài có một đài phun.

KHÔNG BAO GIỜ NỮA 
Hoài niệm ơi, mi hành hạ gì ta?
Trời mùa thu nhuốm sắc màu buồn bã
Những con chim đang bay tìm xứ lạ
Ngọn gió vờn những chiếc lá mùa thu.
Ta với nàng sánh bước giữa ngày thu
Mà cứ ngỡ hai người trong giấc mộng
Bằng một giọng của trời xanh nàng bỗng
Hỏi: “Anh hạnh phúc với những ngày qua?”
Giọng nói ngọt ngào, ánh mắt xao xuyến
Ta lặng im đáp lại một nụ cười
Và bờ môi nhẹ hôn bàn tay trắng.
Ôi bông hoa đầu thơm ngát xinh tươi!
Ôi giọng nói êm đềm trong gió thoảng
Và lời “vâng” âu yếm tự bờ môi!


Xuân Diệu viết về tình yêu của Rimbaud và Verlaine
TÌNH TRAI
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men
Say thơ xa lạ, mê tình bạn
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quên
Những bước song song xéo dặm trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh
Nghe hát ân tình giữa gió sương
Kể chi chuyện trước với ngày sau
Quên gió môi son với áo màu
Thây kệ thiên đường và địa ngục
Không hề mặc cả, họ yêu nhau...
TÀN LỤI 
Ta là người Roma ngày Đế quốc sụp đổ
Ngóng chờ quân man rợ đến nơi này
Và những dòng thơ ta viết ra đây
Có vẻ lụi tàn của hoàng hôn thắm đỏ.
Hồn cô đơn cháy lên vì mệt lử
Nghe nói rằng chiến sự sẽ xảy ra
Không còn sức tham dự nữa đâu mà!
Dù phút chốc cũng không còn sức nữa.
Sống hay chết cũng không còn y chí
Hết thật rồi! Đừng cười nhé Bathylle
Biết nói gì những dòng thơ nức nở.
Thì cứ để cho thơ bay vào lửa
Nô lệ cuối cùng luôn ở bên ta
Và nỗi buồn trong tim này muôn thuở!

GIẤC NGỦ LỚN MÀU ĐEN
Bốn phía một màu đen
Tôi nhọc nhằn nhắm mắt
Ngủ yên niềm khao khát
Hy vọng hãy ngủ yên!
Nhạt nhòa như màn sương
Không nghe, không hiểu được
Đâu cái thiện, cái ác
Ôi câu chuyện thật buồn!
Giống như trên nôi êm
Đưa cao rồi xuống thấp
Và lời ai dịu ngọt:
Hãy lặng im, lặng im!.

TIẾNG MƯA
Mưa rơi lặng lẽ trên thành phố
Arthur Rimbaud
Tiếng nức nở trong tim
Như mưa trên thành phố
Có điều chi mệt lử
Đang ngự trị trong lòng?
Tiếng mưa rơi dịu êm
Trên đất và trên mái
Con tim này khắc khoải
Nghe tiếng mưa nhẹ nhàng!
Khóc chẳng cần nguyên nhân
Con tim mình, trái lại
Có điều chi phản bội?
Buồn bã như đám tang.
Cứ thế, một nỗi buồn
Con tim không biết được
Không yêu và không ghét
Chẳng có gì buồn hơn.
BÀI CA DÀNH CHO NGƯỜI ĐẸP
Người ta bảo anh rằng em tóc vàng
Rằng gái tóc vàng vô thủy vô chung
Rồi lại nói: “Người đâu mà mảnh khảnh…”
Nhưng mà anh không một chút bận lòng.
Mắt em long lanh hơn cả giọt sương
Và bờ môi gợi cho lòng ước muốn.
Người ta bảo anh rằng em tóc đen
Mắt người tóc đen như ngọn lửa hồng
Không ít kẻ thiêu rụi tim trong đó
Nhưng mà anh thấy nhảm nhí vô cùng!
Em thành thạo, cho dù anh lớ ngớ
Và anh yêu bầu nhiệt huyết của em.
Người ta bảo: “Chớ yêu người tóc hung
Họ nhạt nhẽo và hay bỗng chốc buồn…”
Anh chỉ cười trước những lời như vậy!
Anh hít vào mái tóc đượm mùi hương
Yêu tất cả những gì thuộc về em
Nữ hoàng của anh – xin em đứng dậy
Hãy áp sát vào lồng ngực của anh!
René Char (14 tháng 6 năm 1907 – 19 tháng 2 năm 1988) là một trong những nhà thơ trữ tình lớn nhất của Pháp thế kỷ XX.
Tiểu sử:
René Char sinh ở L'Isle-sur-la-Sorgue, Vaucluse. Năm 1929 làm quen với André Breton, Paul Éluard và một số nhà thơ phái Siêu thực khác, in thơ ở tạp chí “Chủ nghĩa Siêu thực phục vụ cách mạng”, trở thành một nhà thơ nổi tiếng từ thời kỳ này. Từ năm 1935 không tham gia những hoạt động của phái nhưng vẫn giữ quan hệ với những người bạn cũ.
Những năm 1941 – 1945 René Char tham gia chiến đấu chống phát xít. Ký ức về những năm tháng chiến đấu được thể hiện trong nhiều tập thơ và văn xuôi. Tập thơ “Giận dữ và bí mật” xuất bản năm 1948 được Albert Camus gọi là “một hiện tượng dị thường của thơ ca Pháp sau “Cảm giác” của Arthur Rimbaud và “Rượu” của Guillaume Apollinaire.
Những năm cuối cuộc đời René Char về sống trong trang trại của mình ở Provence. Năm 1955 gặp nhà triết học Martin Heidegger ở Paris. Trở về Provence, Char tổ chức các cuộc hội thảo về triết học của Martin Heidegger ở Provence. Martin Heidegger viết tặng René Char một tập thơ và thường xuyên nhắc đến thơ của René Char trong các tác phẩm của mình.
Ngoài thơ, René Char còn là tác giả của nhiều tập sách danh ngôn nổi tiếng. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương của nước Pháp. Một giải thưởng dành cho các nhà thơ trẻ nước Pháp mang tên ông. Ở L'Isle-sur-la-Sorgue có bảo tàng René Char.
Tác phẩm:
*Arsenal (1929).
*Ralentir Travaux (1930 - in cùng André Breton và Paul Eluard).
*Artine (1930).
*Le marteau sans maître (1934).
*Seuls demeurent (1943).
*le Poème pulvérisé (1945).
*Feuillets d'Hypnos (1946).
*Fureur et mystère (1948).
*Les Matinaux (1950).
*A une sérénité crispée (1951).
*Recherche de la base et du sommet (1955).
*La Parole en archipel (1962).
*Dans la pluie giboyeuse (1968).
*Le Nu perdu (1971).
*Aromates chasseurs (1976).
*Chants de la Balandrane (1977).
*Fenêtres dormantes et porte sur le toit (1979).
*Les voisinages de Van Gogh (1985).
*Éloge d'une soupçonnée (1988).
*Œuvres complètes (Tuyển tập tác phẩm in năm 1983, Jean Roudaut viết lời giới thiệu).

SỰ AN ỦI
Tình yêu của tôi thơ thẩn trên đường phố. Chẳng lẽ còn ý nghĩa đi về đâu trong sự lựa chọn con đường? Đã lìa đứt sợi chỉ của thời gian. Giờ đã không còn là tình yêu tôi nữa mà mỗi người đều có thể chuyện trò. Tình đã quên tất cả, tình đã chẳng nhớ ra, ai đã trao cho tình linh hồn ngày đó.
Tình bây giờ đi tìm người như thế trong sự hứa hẹn của những ánh mắt nhìn. Tình xuyên qua không gian mà sự thủy chung của tôi vẫn giữ gìn. Tình vẽ ra hy vọng rồi xóa đi niềm hy vọng thật vô tâm. Tình trăm trận trăm thắng không tham dự vào những chiến công.
Tôi vẫn sống trong sâu thẳm của tình, giống như mảnh vỡ hạnh phúc của con tàu bị chìm. Tình không biết rằng sự cô đơn của tôi trở thành sự giàu có của tình. Trên đường kinh tuyến mênh mông, nơi đánh dấu sự thăng hoa của tình, tự do của tôi làm cho tình đổ vỡ.
Tình yêu của tôi thơ thẩn trên đường phố. Chẳng lẽ còn ý nghĩa đi về đâu trong sự lựa chọn con đường? Đã lìa đứt sợi chỉ của thời gian. Giờ đã không còn là tình yêu tôi nữa mà mỗi người đều có thể chuyện trò. Tình đã quên tất cả, tình đã chẳng nhớ ra, ai đã trao cho tình linh hồn ngày đó, ai đã chiếu sáng cho tình từ xa, để cho tình khỏi ngã.
Paul Claudel (tên đầy đủ: Paul-Louis-Charles-Marie Claudel) (5 tháng 8 năm 1868 – 23 tháng 2 năm 1955) là nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ Pháp.
Tiểu sử:
Paul Claudel sinh ở Villeneuve-sur-Fère trong gia đình một công chức tỉnh lẻ. Bố là Louis-Prosper, mẹ là Louise Cerveaux. Hồi nhỏ học ở Lycee Bar-le-Duc, tỉnh Champagne, sau gia đình chuyển lên Paris học ở Lycée Louis-le-Grand. Từ năm 1893 làm ở Bộ ngoại giao Pháp. Từng làm lãnh sự và Đại sứ ở nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Mỹ. Paul Claudel được tặng thưởng huân chương Đại thập tự, năm 1946 được bầu làm thành viên của Viện hàn lâm Pháp.
Paul Claudel được coi là nhà thơ cuối cùng của phái ấn tượng, là nhà thơ có khuynh hướng hoài cổ và tôn giáo. Theo lời của chính Paul Claudel, thì cuốn sách gối giường của ông là Kinh Thánh và tất cả sáng tác của ông làm thành một cuốn Kinh Thánh mới. Paul Claudel không quan tâm đề tài về “những người nào” mà “họ phải trở thành những người nào”. Với vai trò của một nhà thuyết giáo, ông làm thơ theo thể tự do (chịu ảnh hưởng của Walt Whitman) và những bài văn xuôi theo phong cách Kinh Thánh, mà theo lời ông, thể hiện nhịp điệu tự nhiên của trái tim và hơi thở con người. Những tác phẩm thơ nổi tiếng nhất của ông có thể kể đếnCinq grands odes (Năm bài ode lớn, 1910), La cantate а trois voix (Bản đại hợp xướng dành cho ba giọng, 1931). Ngoài ra, rất nhiều vở kịch của ông được dựng thành những bộ phim nổi tiếng. Ông mất ở Paris năm 1955.
Tác phẩm:
Kịch:
*Tête d'or (1890)
*La Jeune Fille Violaine (1892)
*La Ville (1893)
*L'Échange; Tête d'Or (1894)
*La Jeune Fille Violaine (1901)
*Le Repos du septième jour (1901)
*L'Otage (1911)
*L'Annonce faite à Marie (1912)
*L'Ours et la Lune (1917)
*Le Pain dur (1918)
*Les Choéphores d'Eschyle (1919)
*Le Père humilié (1920)
*Les Euménides d'Eschyle (1920)
*Protée (1920, первый вариант)
*Le Soulier de satin (1929)
*Le Livre de Christophe Colomb (1933)
*Jeanne d'Arc au bûcher (1939)
*La Sagesse ou la Parabole du destin (1939)
*L'Histoire de Tobie et de Sara (1942)
*Le Partage de midi (1948)
*Protée (1949)
Thơ:
*Connaissance de l'Est (1896)
*Poèmes de la Sexagésime (1905)
*Processionnal pour saluer le siècle nouveau (1907)
*Corona benignitatis anni dei (1915)
*La Messe là-bas (1919)
*Poèmes de guerre (1914-1916) (1922)
*Feuilles de saints (1925)
*Cent phrases pour éventails (1942)
*Visages radieux (1945)
*Accompagnements (1949)
Văn xuôi:
*Positions et propositions, tome I-II (1928, 1934)
*L'Oiseau noir dans le soleil levant (1929)
*Conversations dans le Loir-et-Cher (1935)
*Figures et paraboles (1936)
*Contacts et circonstances (1940)
*Seigneur, apprenez-nous à prier (1942)
*L'Œoeil écoute (1946)
*Emmaüs (1949)
*Une voix sur Israël (1950)
*L'Évangile d'Isaïe (1951)
*Paul Claudel interroge l'Apocalypse (1952)
*Paul Claudel interroge le Cantique des Cantiques (1954)
*Conversation sur Jean Racine (1956)
*Sous le signe du dragon (1957)
*Qui ne souffre pas... Réflexions sur le problème social (1958)
*Présence et prophétie (1958)
*La Rose et le rosaire (1959)
*Trois figures saintes pour le temps actuel (1959)
Nhật ký:
*Mémoires improvisés. Quarante et un entretiens avec Jean Amrouche (1954)
*Journal. Tome I : 1904-1932 (1968)
*Journal. Tome II : 1933-1955 (1969)
Thư từ:
*Correspondance de Paul Claudel et André Gide (1899-1926) (1949)
*Correspondance de Paul Claudel et André Suarès (1904-1938) (1951)
*Correspondance de Paul Claudel avec Gabriel Frizeau et Francis Jammes (1897-1938) (1952)
*Correspondance Paul Claudel et Darius Milhaud (1912-1953) (1961)
*Correspondance de Paul Claudel et Aurélien Lugné-Poë (1910-1928) (1964)
*Correspondances avec Copeau, Dullin, Jouvet (1966)
*Correspondance de Jean-Louis Barrault et Paul Claudel (1974)
*Correspondance de Paul Claudel et Jacques Rivière (1907-1924) (1984)
*Lettres de Paul Claudel à Élisabeth Sainte-Marie Perrin et à Audrey Parr (1990)
*Correspondance diplomatique. Tokyo (1921-1927) (1995)
*Correspondance de Paul Claudel et Gaston Gallimard (1911-1954) (1995)
*Le Poète et la Bible, volume 1, 1910-1946 (1998)
*Le Poète et la Bible, volume 2, 1945-1955 (2002)
*Correspondance de Paul Claudel avec les ecclésiastiques de son temps. Volume I, Le sacrement du monde et l'intention de gloire (2005)
*Une amitié perdue et retrouvée: correspondance de Paul Claudel et Romain Rolland -2005.

BALLADE
Ta đã từng ra đi biết bao lần, nhưng lần này – lần cuối.
Những người thân yêu ta bỏ lại. Con tàu không đợi, ta giã biệt trên đường.
Cảnh như thế này lặp lại đã nhiều lần, nhưng lần này – lần cuối.
Còn các bạn nghĩ rằng: ta biết đi đâu? Ta đang đi – hãy nhìn xem.
Vĩnh biệt mẹ! Sao mẹ khóc như người đang còn hy vọng hay ngờ vực?
Cái điều không thể khác, không đáng khóc, không đáng để nước mắt rơi từ đôi mắt của ta.
Hay các bạn quên rằng ta là bóng và đi, như bóng, các bạn cũng là bóng, bóng ma?
Ta đã không còn bao giờ gặp mặt.
Ta chia tay những người phụ nữ: những người vợ chung thủy, những bạn gái, những người đáng trách.
Đã đành với tiếng thì thầm của phụ nữ: ta cô đơn, ta nhẹ nhàng như đứng trước tận cùng.
Nhưng trong giây phút cuối, trong giờ này ủ rũ và trang nghiêm
Cho phép ta nhìn vào gương mặt của em, một khi ta chưa trở thành người khác
Một khi ta chưa biến mất. Hãy cho ta nhìn vào gương mặt của em! Còn sau đấy thì em sẽ nhìn kẻ khác
Nhưng em hãy nói với ta dù chỉ một lời, rằng em sẽ yêu đứa con
Đứa con trai, linh hồn và máu của ta: cái tên “cha” sẽ trao cho người khác.
Ta đã không còn bao giờ gặp mặt.
Vĩnh biệt nhé, bạn bè! Ta ở quá xa để có thể làm cho bạn bè tin tưởng
Chỉ sự tò mò và mạnh dạn. Mặt đất mà các bạn chưa từ giã một lần, gọi là bền vững cho mình.
Hãy để lại những thứ gì ta đã nhận, như một món quà, như mạch nguồn của sự vui vẻ bất thình lình:
Hiểu biết về sự uổng công và cái chết của con người, chỉ có ở những ai cho rằng mình đang sống.
Tất cả vẫn còn đây: khôn ngoan và đần độn, trống rỗng và dày đặc.
“Cuộc sống tự do, khoa học và nghệ thuật…” Ô, những anh em này có còn ở trong ta?
Có cho phép ra đi, nếu tĩnh lặng các người không thể đem cho?
Ta đã không còn bao giờ gặp mặt.
Lời gửi
Các bạn ở lại, chúng tôi đã lên tàu, những cánh cửa lúc này đóng chặt.
Không còn gì ngoài khói trên trời. Đừng đợi rằng chúng tôi sẽ còn quay lại trần gian.
Không còn gì ngoài mặt trời và nước của Chúa Trời, như trong buổi đầu tiên.
Ta đã không còn bao giờ gặp mặt.
Mooris Maeterlinck (1862-1949) - nhà viết kịch, nhà thơ, nhà triết học người Bỉ viết bằng tiếng Pháp (tên đầy đủ là Count Maurice (Mooris) Polidore Marie Bernhard Maeterlinck).
Sinh ngày 29-8-1962 tại Ghent trong một gia đình khá giả, bố làm công chứng, mẹ là con gái một luật sư giàu có. Sau khi tốt nghiệp trung học và Đại học Luật Mooris Maeterlinck lên tu nghiệp về luật tại Paris. Năm 1886, ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent, viết thơ, kí, phê bình cho các báo và tạp chí như Nước Bỉ trẻ (La Jeune Belgique), La Wallonie. Năm 1886 ông in truyện ngắn đầu tiên Cuộc tàn sát những kẻ vô tội; năm 1889 xuất bản tập thơ đầu tiên và vở kịch đầu tiên, được một nhà phê bình Pháp rất có thế lực là O. Mirbau hết lời khen ngợi. Từ đó ông bỏ nghề luật sư. Trong những năm tiếp theo, ông viết hàng loạt vở kịch cổ tích, tượng trưng, kịch rối...
Năm 1895 M. Maeterlinck cưới vợ là Leblan - diễn viên tham gia đóng các vở kịch của ông và năm 1896 sang Paris sinh sống. M. Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy, là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sân khấu, trong các tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc, mộng ảo chống lại số phận khắc nghiệt. Năm 1909 ông viết xong vở kịch Con chim xanh là một kiệt tác sân khấu của kể về những cuộc phiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng con chim xanh, trở thành một điển cố văn học biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu.
Mooris Maeterlinck được trao giải Nobel Văn học nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị. Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi vì cổ tích là biểu hiện sâu nhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậy những cảm xúc con người. Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lý hình thành một cách trực giác. Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện trong tác phẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩa thần bí. M. Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầu của sân khấu kịch phi lí; các vở kịch của ông đến ngày nay vẫn được dàn dựng ở nhiều nước trên thế giới.
Trong Thế chiến I, ông xin vào dân quân nhưng không được chấp nhận vì quá tuổi và nhà văn đã thể hiện lòng yêu nước bằng hàng loạt cuộc nói chuyện tuyên truyền ở Châu Âu và Mỹ. Năm 1939 Đức quốc xã đe dọa chiếm cả châu Âu Mooris Maeterlinck chạy sang Bồ Đào Nha, khi cảm thấy rằng Bồ Đào Nha cũng sẽ bị Đức chiếm, ông cùng với vợ sang Mỹ. Năm 1947 ông trở về Nice, Pháp.
Ngoài giải Nobel Mooris Maeterlinck được tặng huân chương Đại thập tự của vua Leopold (1920), huân chương Thanh kiếm của Bồ Đào Nha (1939) và được vua Bỉ phong tước hiệu Bá tước (1932).
Ông mất ngày 6-5-1949 tại Nice, Pháp.

Tác phẩm:
* Cuộc tàn sát những kẻ vô tội (Le massacre des innocénts, 1886), truyện.
* Vườn kính (Serres chaudes, 1889), tập thơ.
* Công chúa Maleine (La princesse Maleine, 1889), kịch.
* Người đàn bà đột nhập (L'intruse, 1890), kịch
* Những người mù (Les aveugles, 1890), kịch
* Bảy nàng công chúa (Les sept princesses, 1891), kịch
* Pelleas và Mélisande (Pelléas et Mélisande, 1892), kịch
* Alladine và Palomides (Alladine et Palomides, 1894), kịch
* Cái chết của Tintagiles (La mort de Tintagiles, 1894), kịch
* Kho báu của những kẻ nhẫn nhục (Le trésor des humbles, 1896), luận văn mĩ học.
* Mười hai bài hát (Douze chansons, 1896), thơ
* Aglavaine và Selysette (Aglavaine et Selysette, 1896), kịch cổ tích
* Khôn ngoan và định mệnh (Le sagesse et la destinée, 1898), khảo luận triết học
* Đời sống loài ong (La vie des abeilles, 1900), khảo luận.
* Ariane và gã Râu Xanh (Ariane et Barbe-Bleue, 1901), kịch
* Monna Vanna (1902), kịch
* Ngôi đền vùi lấp (Le temple enseveli, 1902)
* Joyselle (1903), kịch
* Điều kì diệu của thánh Antoine (Le miracle de Saint-Antoine, 1903), kịch
* Trí tuệ của hoa (L'intelligence des fleurs, 1907)
* Con chim xanh (L'oiseau bleu, 1909), kịch
* Thị trưởng Stilemonde (Bourgmestre de Stilemonde, 1919)
* Miền tiên cảnh lớn (La grande féerie, 1924), tiểu luận
* Tai họa đã qua (Le malheur passe, 1925), kịch
* Đời sống của mối (La vie des termites, 1926), tiểu luận
¬*Đời sống không gian vũ trụ (La vie de l'espase, 1928), tiểu luận
* Đời sống loài kiến (La vie des fourmis, 1930), tiểu luận
* Quy luật vĩ đại (La grande loi, 1933), tiểu luận
* Trước mặt Chúa (Devant Dieu, 1937), tiểu luận
* Thế giới khác, hay khớp vũ trụ (L'autre monde ou le cardan stellaire, 1942), tiểu luận
7 bài từ: Quinze Chansons (15 khúc ca)

II
Nếu một ngày người ấy quay trở lại
Thì em biết nói gì với người ta?
- Hãy nói rằng chị đã chờ mòn mỏi
Đến một hôm, đã kiệt sức trông chờ…
Thế nếu như người ấy không nhận ra
Nếu như em bị người ta gặng hỏi?
- Em cứ lựa lời nói với người ta
Có thể người ta cũng đau buồn đấy…
Nếu người hỏi biết tìm chị nơi đâu
Thì biết nói sao cho người yên dạ?
- Chiếc nhẫn vàng của chị em hãy trao
Cho người ta, đừng nói thêm gì cả…
Nhưng nếu như người ấy hỏi em rằng
Sao không có lửa, sao nhà vắng vậy?
- Em hãy chỉ vào cánh cửa mở toang
Và ngọn đèn đã tắt cho người ấy…
Thế nếu như người ấy hỏi em rằng
Chị có buồn, chị có từng than thở
- Em hãy nói rằng chị đã cười lên
Để người ta vì chị mà đau khổ…
III
Người ta đã giết chết ba cô bé
Để xem những gì trong tim của họ.
Con tim đầu tiên tràn đấy hạnh phúc
Và kể từ khi máu chảy trên đất
Có ba con rắn rít trong ba năm.
Con tim thứ hai đầy sự dịu dàng
Và kể từ khi máu chảy xuống đó
Có ba con cừu giữ trong ba năm.
Con tim thứ ba chứa đầy đau khổ
Và kể từ ngày máu rơi xuống đó
Mắt ba thiên thần nhìn suốt ba năm.
V
Có ba chị em mù
(Hy vọng và hy vọng)
Ba chị em mù quáng
Có ba cây đèn vàng.
Cả ba đi lên tháp
(Họ, bạn và chúng tôi)
Cả ba cùng lên tháp
Chờ đợi trong bảy ngày…
Ôi! – Một người kêu lên
(Hy vọng và hy vọng)
Ôi! – Một người kêu lên
Đèn của tôi chiếu sáng…
Ôi! – Tiếng người thứ hai
(Họ, bạn và chúng tôi)
Ôi! – Người thứ hai nói
Vua đang đi lên kìa…
Người thứ ba nói – Không!
(Hy vọng còn đâu nữa)
Người thần thánh nói – Không!
Và đèn tắt trong gió…
VI
Người ta đến nói rằng
(Các con ơi, ta sợ)
Người ta đến nói rằng
Chàng đã không còn nữa…
Ta thắp ngọn đèn lên
(Các con ơi, ta sợ)
Ta thắp ngọn đèn lên
Rồi ra đi với nó…
Ở cánh cửa đầu tiên
(Các con ơi, ta sợ)
Ở cánh cửa đầu tiên
Thấy run run ngọn lửa…
Ở cánh cửa thứ hai
(Các con ơi, ta sợ)
Ở cánh cửa thứ hai
Ngọn lửa đang thầm thĩ…
Ở cánh cửa thứ ba
(Các con ơi, ta sợ)
Ở cánh cửa thứ ba
Ánh sáng không còn nữa…
VII
Bảy con gái của tiên
Khi mẹ họ đã chết
Bảy con gái của tiên
Đang tìm đường để thoát.
Họ thắp bảy ngọn đèn
Chìa khóa ngày đâu mất
Tìm khắp bốn trăm phòng
Chỉ bóng đêm dày đặc.
Đến hang động âm thanh
Đi xuống theo thời gian
Bên cánh cửa đóng kín
Họ thấy chìa khóa vàng.
Nhìn thấy biển bao la
Các con gái sợ chết
Trước cánh cửa kín mít
Họ không dám mở ra.
X
Chàng trai đã ra đi
(Cửa rung lên – tôi biết)
Chàng trai đã ra đi
Nàng mỉm cười vĩnh biệt…
Chàng trai quay trở lại
(Đèn nói – tôi biết mà)
Chàng trai quay trở lại
Nhưng nàng đã đi xa…
Tôi nhìn ra cái chết
(Tôi biết tâm hồn chàng)
Tôi nhìn ra cái chết
Tôi đã lấy hồn anh…
XIII
Tôi đi tìm ba mươi năm rồi, chị em ơi
Chàng trốn ở đâu đó?
Tôi lang thang ba mươi năm rồi, chị em ơi
Không tìm ra đâu cả…
Ba mươi năm tôi thơ thẩn, chị em ơi
Đôi chân của tôi mệt lử
Chàng ở khắp mọi nơi, chị em ơi
Mà không nơi này nơi nọ…
Giờ buồn đến gần rồi, chị em ơi
Buồn đau gần lắm
Buổi tối cũng chết, chị em ơi
Hồn tôi đau lắm…
Em mới mười sáu tuổi, chị em ơi
Giờ đến lượt em rồi đấy
Hãy nhận lấy cây gậy này, chị em ơi
Rồi đi tìm cho thấy… 
Theo http://vietnamcayda.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nguyễn Tấn Việt và Cánh giang bay lẻ dọc đường thơ

Nguyễn Tấn Việt và Cánh giang bay lẻ dọc đường thơ Trong khi đi tìm hiểu con giang cụ thể là con gì, tôi chợt nhớ đến một câu trong ca từ ...