Trịnh
Công Sơn - Như cánh vạc bay
Trịnh Công Sơn viết nhạc từ
tuổi đôi mươi cho tới những năm gần đây, cho nên đã cho chúng ta một số lượng
tác phẩm rất lớn. Như ở một triết gia đích thực, ở nơi ông nỗi ám ảnh lớn về đời
người đã đưa đến ba loại đề tài lớn, là tình yêu, quê hương và thân phận con
người, trong đó chiến tranh và đói khổ là sự ngột ngạt bao trùm lên tất cả. Khi
chiến tranh đã chấm dứt, và vận nước đã đổi thay, ông thiên về các đề tài mang
nhiều triết tính về cuộc đời, nhưng thủy chung vẫn là người viết nhạc tình độc
đáo nhất. Nhạc sĩ Văn Cao gọi Trịnh Công Sơn là ca nhân về tình yêu có lẽ là
trong ý đó... Từ góc độ của người hát và yêu nhạc, khi nhìn lại Trịnh Công Sơn
viết cho tình yêu, Quỳnh Giao muốn được nói lên một sự kiện, đó là từ Trịnh
Công Sơn trở đi, các tình khúc đã đổi khác rất nhiều, và nền tân nhạc phải cảm
tạ ông về sự khai phá đó...
Nói về tình khúc Trịnh Công
Sơn, ta hãy thử nhắm mắt lại để nhìn quanh mà xem... Gió mưa, nắng cát; sông biển,
núi non; sa mạc, công viên; lá vàng, sỏi đá; rong rêu, lộc nõn; phố vắng, tháp
cổ; mây bay, tóc rối; thân xác, cây già, v.v... ngần ấy hình tượng tản mát đều
lấp lánh siêu thực trong các tình khúc của ông. Trịnh Công Sơn là một phù thủy
về ngôn ngữ, và căn bản văn hóa Pháp mà ông hấp thụ từ khi còn trẻ có thể phần
nào, dù chỉ phần nào thôi, giải thích khả năng dùng chữ đầy ấn tượng lạ kỳ của
ông. Phần nào thôi, vì khả năng rất tự nhiên đó, có lẽ ông phải có từ tiền kiếp,
nhất là trong lối sử dụng hình dung từ bóng bảy và hình ảnh bất ngờ mà có sức
biểu cảm lớn, như trong hội họa. Ông là một nhà thơ, trước khi là một nhạc sĩ.
Ta hãy nghe Ru ta ngậm ngùi chẳng hạn, để bàng hoàng nhớ lại là 30 năm trước
ông dùng chữ như thế nào...
Khi tình đã vội bay,tim lăn
trên đường mòn
Trên giọt máu cuồng điên, con
chim đứng lặng yên
Khi về trong mùa Đông, tay
rong rêu muộn màng
Thôi chờ những rạng đông...
Ngoài giá trị của lời ca, điều
giải thích vì sao nhạc Trịnh Công Sơn chinh phục người nghe có lẽ là nét nhạc
đơn giản, có giá trị ở giai điệu hơn hoà thanh. Nhạc ông dễ nghe dễ cảm lại
không đòi hỏi hoà âm cầu kỳ, nên chỉ với một cây đàn, người ta cũng đã diễn tả
được cái hồn của nhạc, cái tứ của thơ, chứ không cần tới dàn nhạc lớn được phối
khí công phu. Trong ý nghĩa đó, nhạc Trịnh Công Sơn là những khúc rong ca nằm ở
một cực đối nghịch với nhạc Dương Thiệu Tước bác học. Nhưng hai người lại giống
nhau, và có lẽ hợp nhau, ở trình độ văn hoá rất sâu và khả năng dùng chữ rất
tài.
Trước khi phân tích về lời
ca của Trịnh Công Sơn, tôi làm ngược những người viết về ông: tôi phân tích phần
nhạc rất độc đáo của Trịnh Công Sơn.
Những tình khúc thuở ban đầu
như Ướt Mi, Biển Nhớ, và ngay cả Diễm Xưa, Trịnh Công Sơn đã có nhạc thuật rất
chỉnh. Giống như Văn Cao hay Phạm Duy trong những ca khúc đầu đời, Trịnh Công
Sơn cũng dùng từng câu nhạc rất “balance” như cấu trúc của một câu thơ, mà
không bị “monotone”. Tôi xin thí dụ:
Hồn cầm phong hương hình
dáng xuân tàn
Ngày dần buông trôi sầu vắng
cung đàn
Từ ngày ra đi chờ vắng tin
người
Từ người ra đi là hết mơ rồi
Cung Thương là tiếng đàn
Cung Nam là tiếng người...
(Cung Đàn Xưa của Văn Cao)
Bốn câu đầu như một bài thơ
tứ tuyệt, mỗi chuỗi nhạc có tám chữ. Đến câu thứ tư nhạc chuyển sang năm chữ,
êm đềm, bay bổng...
Đêm năm xưa khi cung đàn lên
tơ
Hoa lá quên giờ tàn, mây trắng
bay tìm đàn
Hồn người thổn thức trong
phòng loan..
Đêm năm xưa khi cung đàn gây
mơ
Âu yếm nâng tà quạt hôn gió
đưa về thuyền
Tưởng người trên sóng ru thần
tiên...
(Khối Tình Trương Chi của Phạm
Duy)
Đoản khúc trên được chia ra
làm hai câu. Câu thứ nhất là một chuỗi tám chữ, câu thứ hai có mười chữ và câu
thứ ba bẩy chữ. Rồi cứ như thế Phạm Duy kể cho chúng ta n ghe chuyện thần tiên
bằng những câu nhạc cân đối, đều đặn như một chuỗi ngọc trai...
Ngoài hiên mưa rơi rơi
Lòng ai như chơi vơi
Người ơi nướt mắt hoen mi rồi
Đừng khóc trong đêm mưa
Đừng than trong câu ca
Buồn ơi trong đêm thâu...
(Ướt Mi của Trịnh Công Sơn)
Những câu nhạc như bài thơ
năm chữ và thỉnh thoảng chêm câu bẩy chữ khi kết thúc đoạn nhạc, nghe như tiếng
mưa rơi rỉ rả đêm khuya...
Mưa vẫn mưa bay trên tầng
tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh
xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót
nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt
thêm sâu...
(Diễm Xưa của Trịnh Công
Sơn)
Cả đoạn nhạc đầu là chuỗi
thơ tám chữ, nhịp nhàng, cân đối. Đếm ra thì thấy đến câu chuyển nhạc
(modulation) Trịnh Công Sơn mới đổi cấu trúc của nhạc. Nghĩa là anh đã dùng tám
câu nhạc đầu hoàn toàn tám nốt, không chuyển đổi. Vậy mà ta không thấy bị nhàm,
ngấy khi hát tám câu đầu của bài Diễm Xưa...
Những ca khúc rộn ràng của
anh, dù không có nghĩa rộn ràng về phần lời, mà vì tiết điệu của bài hát như những
bài ở Trọ, Hoa Xuân Ca, và những ca khúc da vàng của anh, lại có nét nhạc cung
đình ở Huế, vì anh dùng nhiều ngũ cung và những phách “lỗi” nhịp đặc biệt của
điệu “tứ đại cảnhõ và “ bình bán” này.
Những ca khúc mang âm hưởng
“negro spirituel”, dân ca của ngườida đen của anh mới là tuyệt. Hãy nghe lại
Xin Mặt Trời Ngủ Yên, Hãy Khóc Đi Em, Hạ Trắng...để thấy Trịnh Công Sơn như một
Duke Ellington của xóm da đen, với tiếng Saxo thật nức nở, và giọng ca loại
khàn đục của Carol Kim một thời mới nghe hết lại cái rã rượi một cách “lười biếng
của loại nhạc da đen này...
Riêng bài hát của Trịnh Công
Sơn mà tôi yêu thích nhất chính là bài Lời Mẹ Ru, tôi nghe từ thuở mới đến tuổi
dậy thì, chưa có con để biết ru con. Nét n hạc như tiếng ki nh cầu, và lời ca
tôi coi n hư trác tuyệt nhất của Trịnh công Sơn đưa tôi vào thế giới ảo huyền,
tôn kính. Những giọng ca trong vắt như của Kim Tước và Hà Thanh thật là thích hợp.
Ngày ấy, tuy đã bắt đầu hát ban “người lớn” rồi, nhưng các trưởng ban liệt tôi
vào loại “nhi đồng”, chỉ hát tango, và valse chứ chưa hát những bài tình cảm
như Lời Mẹ Ru...làm tôi uất ức lắm!
Đôi khi tôi nghĩ là Trịnh
Công Sơn phần nào bị “oan”. Bị “oan” bởi vì lời ca quá đặc biệt của anh khiến
người thưởng ngoạn “quên” đi phần nhạc cũng rất là độc đáo của anh. Nếu ta cứ
ngẫm nghĩ lại mà xem: Một người tự học nhạc lấy, không qua một trường đào tạo
nào cả. Trong gia đình cũng không hề có người đi trước để có sự di truyền, hay
học hỏi. Trịnh Công Sơn đã đơn thương độc mã đi vào lĩnh vực âm nhạc, như một
người “học nhạc từ kiếp trrước” , với những tác phẩm phải nói là có giá trị, và
có chỗ đứng ngang hàng với những người viết nhạc được học hành hẳn hoi, không kể
là còn xuất thân từ những gia đình dòng dõi, khuê các, được học cả cổ nhạc lẫn
nhạc Tây phương.
Nhà văn Nguyễn Mộng giác có
lần thắc mắc hỏi tôi nghĩ gì về nhạc của Trịnh Công Sơn. Theo anh, thì nhạc của
ho Trịnh dù đơn giản , nhưng nghe vẫn có chất “trí thức” trong đó, không giống
như những ca khúc phổ thông, dễ nghe dễ hát phần nhiều nghe ngây ngô và” bình
dânõ lắm. Tôi đồng ý với anh Giác, nhưng cũng không giải thích nổi điều này.
Đương nhiên là lời ca của anh là của người có học, có chiều sâu của sự suy
nghĩ. Nhưng giải thích sao đây phần nhạc cũng rất “mélodieuse”, phong phú và uyển
chuyển của anh, tuy anh không giỏi gì về nhạc thuật cả!. Tôi chỉ dám kết luận
anh là một người có “gout”, có khiếu thẩm âm, thẩm mỹ mà thôi...
Đến đây tôi xin chuyển đoạn,
để nói tới phần chính yếu mang lại sự thành công của Trịnh Công Sơn.
Nói về sự nghiệp âm nhạc,
khi nói về nhạc tình, người ta có thể lý luận dài dòng về tình yêu của Trịnh
Công Sơn. Ông viết tình ca cho người, có thể là cho người yêu, nhưng ông không
ngưng ở điểm tới của tình yêu, mà đi tới, đi tiếp. Và bay mãi, một mình, như
cánh vạc trong đêm. Thực ra, ông có trái tim quá lớn để có hạnh phúc. Trái tim
đó đã nở thành cả trăm tình khúc cho đời, mà trong một bài viết, chúng ta chỉ
có thể giới thiệu được một phần nhỏ, rất nhỏ, qua một số trích đoạn...
Vào cuối thập niên 50, đầu
thập niêạn 60, khi chúng ta còn sướt mướt với dòng nhạc lãng mạn gọi là tiền
chiến, thì Trịnh Công Sơn đã gây kinh ngạc cho mọi người, với một số ca khúc thật
lạ. Lạ từ nhan đề tới hình ảnh tân kỳ mang nét siêu thực trong lời ca. Ướt mi,
Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Lời buồn thánh, Ru ta ngậm ngùi... quả là mới lạ, khi
ta đã quen nghe Kiếp hoa, Nỗi lòng, Khúc nhạc tương tư, hay Lá thư, Tan tác, Tạ
từ... Rồi mưa bay trên tầng tháp cổ, mắt xanh xao, hồn xanh buốt... là hình tượng
mới và màu sắc lạ, đã gây sự chú ý cho người nghe. Và nét nhạc chậm buồn như lời
kinh thảm sầu khiến các tình khúc của ông liền chinh phục người nghe...
Sang thập niên sau, Như cánh
vạc bay và một loạt các tình khúc khác tiếp tục làm chúng ta say mê, với hình ảnh
diễm ảo của tóc em từng sợi nhỏ, rớt xuống đời làm sóng lênh đênh... ta nghe từng
giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long lanh... Trịnh Công Sơn viết nhạc tình với
nét bút họa sĩ trong một bức tranh cổ, và ông khéo dùng kỹ thuật cổ họa, ông đảo
ngược ngôi vị chủ khách để vẽ ra những thăng hoa hay tàn phá của tình yêu, khi
chủ đích là hát cho người tình.
Cũng trong lối viết tình ca,
Trịnh Công Sơn có thể là đứa bé thơ âu nói về mối tình trăm tuổi, hoặc cụ già
thực hư về hoan lạc cuộc đời trẻ dại. Bài Nguyệt ca đã diễn tả được nét vui
tươi mơn mởn của tình yêu, đưa ta về quê hương thanh xuân, và toàn bài duy nhất
có một chữ tình thì lại là... tình cờ.
Nghệ thuật dùng chữ bóng bẩy,
với những tĩnh từ nay mang nghĩa mới sắc mới đã tạo ra phong cách Trịnh Công
Sơn. Người nghe cứ tưởng rằng mình được mời vào ngôi vườn cũ, thế rồi cảnh trí
đổi thay, bao nhiêu hình tượng hay ý niệm của ước lệ cổ điển bỗng đảo tung và
ngôi vườn xưa chợt mở ra khung trời lạ. Sự biến gây choáng váng đó là gì, nếu
không do tình yêu? Đóa hoa vô thường, ca khúc công phu nhất và dài hơn 11 phút
của ông với sáu chuyển đoạn thần diệu, có thể là điển hình cho nghệ thuật Trịnh
Công Sơn khi ông viết về tình yêu như nỗi chết bất tận giữa cõi vĩnh hằng của
kiếp sống.
Lâu lắm sau 1975, Trịnh Công
Sơn đã viết trở lại về những thể tài đích thực của riêng ông, như lời thiên thu
gọi, như cánh diều bay mà hồn lạnh lẽo... Bản thân ông rong chơi trên mé bờ tuyệt
vọng mà tình ca của ông vẫn nuột nà đằm thắm, và Trịnh Công Sơn vẫn có thính giả
của ông, ở mọi lứa tuổi. Như Môi Hồng Đào 16 tuổi và Hoa vàng mấy độ đã nối lại
dòng tình đứt đoạn của một đời quá thăng trầm, như Quỳnh hương nhí nhảnh đùa
vui với nhân thế, và ở trọ đã làm tuổi thơ đời nay đi từ dân ca vào âu ca, an
nhiên tựa hơi thở.
Lời cuối ở đây, chúng ta phải
dành cho chính tác giả. Năm năm trước, Trịnh Công Sơn đã viết: Tôi đã mỏi dần với
lòng tin. Chỉ còn niềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt vọng. Có nghĩa tin vào
chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác. Người yêu nhạc ông cũng biết
là cuộc đời vốn không thể khác, nên dù cho bão nổi sóng chìm, loài chim nhỏ hót
chơi trên đầu ngọn lau vẫn để lại cho đời những tình khúc tuyệt vời. Điều đáng
yêu nhất ở con người Trịnh Công Sơn chính là tình yêu người bao la bát ngát. Vì
bát ngát như vậy, mà Trịnh Công Sơn không chối bỏ một tình cảm nào đưa đến cho
mình, và ngược lại, không ràng buộc với một thứ tình nào hết, ngoài tình gia
đình, và tình bạn, bởi lẽ đó là những thứ tình bền bỉ nhất.
Khi tôi viết bài này cho
chương trình ỏ Suối Nguồn Tân Nhạc Việt Nam” của BBC, vào thời điểm tháng Tư năm
1997, Trịnh Công Sơn vẫn còn sống và khỏe mạnh bình thường. Ngày tôi đến ngôi
nhà ở đường Duy Tân cây dài bóng mát, tôi cười cười nói đùa:” Quỳnh Giao nghe ở
bên kia đồn là anh đã chết rồi, thế có bậy không?”. Anh cười thú vị:”A, hôm nay
là ngày mùng một tháng Tư tây đấy. Cá tháng Tư mà, Quỳnh Giao nhớ không?”.
Nói rồi, đem ngay tập sách nhạc “Trịnh Công Sơn, tuyển tập những bài ca không năm tháng” viết đề tặng tôi như sau: Bản dành tặng Quỳnh Giao, Sàigon tháng Tư, poisson d'Avril!
Nói rồi, đem ngay tập sách nhạc “Trịnh Công Sơn, tuyển tập những bài ca không năm tháng” viết đề tặng tôi như sau: Bản dành tặng Quỳnh Giao, Sàigon tháng Tư, poisson d'Avril!
Bốn năm sau, cũng đúng vào
ngày poisson d'Avril, tôi lạnh người khi nghe tin anh đã ra đi vĩnh viễn.
Khi máy bay của mẹ tôi và
tôi đáp đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc ba giờ sáng ngày mùng Ba tháng Tư, năm
2001, thì sau đó đúng ba tiếng đồng hồ, anh cũng được hơn sáu ngàn người đưa tiễn
đến nơi an nghỉ cuối cùng tại Gò Dưa, Thủ Đức, chôn cạnh người anh yêu quý nhất
đời, đó là mẹ của anh.
Tôi trở về Huế để dời mộ phần
của thân phụ tôi lên núi. Năm mươi năm qua, người nằm trong phần đất bên cạnh
phủ Tuy Lý, nay đã là nhà riêng của tư nhân, thuộc vào sân vườn của họ. Đem người
lên núi cùng với mộ của cô tôi (người không chồng không con, suốt đời sống cạnh
cha tôi để săn sóc cho cha tôi và anh em chúng tôi), được gần mộ của ông bà nội,
mẹ tôi và tôi thật là mát ruột.
Tôi cứ tiếc mãi là về quá cận
giờ, không thể tiễn Sơn lần cuối, dù mình đã có mặt một cách tình cờ vào thời
điểm đó. Sau khi lo xong công việc dời mộ của cha về, tôi có đến nhà anh cùng với
thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, chị họ của tôi, để thắp nén hương tưởng niệm lên bàn
thờ nghi ngút khói của anh. Khi ấy có một phái đoàn đang quay phim và phỏng vấn
gia đình anh. Tôi được biết có cả nhạc sĩ Trần Văn khê đang ở lầu trên, nhưng
chúng tôi không lên trên đó. Nhìn hình ảnh của anh, chữ viết của anh, nét vẽ của
anh ngay nơi anh ở, tôi không muốn gặp ai khác ngoài sự tưởng nhớ và tiếc
thương nặng trĩu của riêng mình
Anh cho rất nhiều, và nhận
cũng rất nhiều. Có lẽ từ trên cao nhìn xuống một cõi đi về của mình, hẳn anh đã
ngạc nhiên thấy có quá nhiều người thương khóc anh. Họ yêu anh thật tình anh ạ.
Họ là một đám đông già trẻ, lớn bé, gái trai đủ mọi thành phần. Anh là người có
được một hạnh phúc đích thực: Hạnh phúc của một người gieo hạnh phúc...
Quỳnh Giao
Nhưng cái buồn trong con người Trịnh Công Sơn không chỉ dừng
lại ở những nhớ thương tiếc nuối không có đối tượng như cái buồn vơ vẩn, cái nhớ
vẩn vơ thường thấy trong cảm xúc của những tâm hồn lãng mạn trữ tình, nó đi xa
hơn chút nữa, nó đi sâu hơn chút nữa, có mở đường cho những chuyến lên đường đi
vào thế giới sầu của những quả tim, những khối óc đã ý thức được điều mà chúng
ta thường nhắc đến như là “thân phận con người.”
Tình yêu như trái phá...con tim mù lòa... Lúc gặp câu hát ấy
lần đầu tiên khi lật một tập nhạc Trịnh Công Sơn trong một tiệm sách ở Huế vào
những ngày khá bận rộn với tin tức chiến sự trong nước, tôi đã để mắt tôi dừng
lại khá lâu trên trang giấy in bài nhạc có lời ca do chính tay anh viết và tôi
cũng đã suy nghĩ khá lâu về hình ảnh mới mẻ này trong ngôn ngữ của tình yêu. Một
hình ảnh rõ rệt, mạnh bạo, cho thấy tác giả có óc tưởng tượng phong phú. Trước
khi trái phá được Sơn khai sinh, người Việt chúng ta cũng đã quen thuộc với một
từ ngữ khác, cũng chát chúa không kém, tả được cái sửng sờ, cái tình trạng ngơ
ngẩn, ngẩn ngơ mà ai cũng đã sống qua sau một lần yêu thành thật và do đó đắm đuối,
si mê. Và đó là tiếng sét tình yêu (le coup de foudre) trong lối nói của người
Pháp.
Tiếng sét này, cả nhân loại nghe được, cảm nhận được. Tiếng nổ
này, lọt vào kinh nghiệm sống của một người đã thấm được, mà thấm sâu sắc, cảnh
chết chóc, tang tóc do chiến tranh gây ra, nó thành ra tiếng đinh tai của trái
phá. Thời bình người ta xửng vửng vì tiếng sét tình yêu. Sống với khói lửa mịt
mù, bom đạn chập chờn ngày đêm, âm thanh của trái phá mới lọt một cách hết sức
tự nhiên vào suy tư, vào ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn. Thật ra, có tưởng tượng
nào mà không thoát thai, phát tích từ kinh nghiệm sống. Vào những năm đầu của
thập niên 70, sau Tết Mậu Thân, sau Mùa Hè Đỏ Lửa, không có ai bị một cú “sốc”
vì cái bạo, cái trực diện của trái phá, dù rằng trước đó mọi người vẫn thân thiết
hơn với những hình ảnh khác của tình yêu, nhẹ nhàng hơn như tình trong như đã mặt
ngoài còn e hoặc dịu dàng hơn như đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.
Lời trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn nhan nhản những
hình ảnh chiến tranh, đầy rẫy những khổ hận của chiến thời như vậy. Lọt vào những
bộ óc bị chính trị điều kiện hóa, chúng có thể được đem ra làm lợi khí cho một
luận điệu tuyên truyền nào đó, tùy theo chỗ đứng - tôi cố ý tránh từ ngữ “lập
trường” - của người phát biểu. Nhưng nếu chỉ có những thảm cảnh chiến tranh, nếu
chỉ có ngần ấy thì toàn bộ tác phẩm của anh - non 600 bài chứ không ít - đã và
sẽ không để lại cái lay động thấm thía mà chúng ta vẫn cảm nhận mỗi khi ngẫm
nghĩ về ý nghĩa của một câu hát, một bài ca.
Chúng ta còn có một người nghệ sĩ. Một nghệ sĩ rất giàu tình
cảm và nhạy cảm. Một nghệ sĩ bị ám ảnh bởi những thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời.
Những thắc mắc, những ray rứt bắt nguồn từ một nhận thức rất rõ ràng về tính
cách phi lý của bạo động, của chiến tranh, dù là trong tất cả mấy trăm ca khúc
đó, theo chỗ tôi biết, không có câu nào anh nói trắng ra như vậy.
Anh không ngả hẳn về một vũ trụ quan của một tôn giáo hay tín
ngưỡng nào. Lý do giản dị là nếu anh hoàn toàn tin tưởng vào một tôn giáo nào
thì hẳn anh đã ngưng thắc mắc. Điều tôi tạm gọi là cái “loay hoay siêu hình” của
anh nó lướt qua nhiều niềm tin được nhắc đến qua thuật ngữ của Phật giáo, Thiên
Chúa giáo , Lão Trang mà Sơn đã sử dụng trong ngôn từ của anh.
Cát Bụi mệt nhoài chăng? Thượng Đế của Thiên Chúa đã chẳng tạo
ra con người từ một nắm đất là gì? Cái phù du của đời người nó nhắc nhở rằng một
ngày nào đó ai cũng trở về với cát bụi. Dấu chân địa đàng chăng? Đặt câu hỏi đó
là nghĩ ngay đến Thiên đàng của chúa Ki-Tô. Ta thấy em trong tiền kiếp, có
nghĩa là thấy người yêu trong luân hồi vô tận. Tìm trong vô thường có đôi dòng
kinh... Thì đó, tiền kiếp và vô thường lại là những đóa hoa đượm hương giải
thoát luôn hé nụ trong vườn Tứ Diệu Đế của Đức Thích Ca. Không có cái chết đầu
tiên..mà cũng không có cái chết sau cùng...hình như nhuốm chút vô thủy vô chung
của vũ trụ Trang Tử. Một Cõi Đi Về ...loáng thoáng hình bóng của sinh ký tử
qui, của sống gửi thác về trong tín ngưỡng cổ truyền.
Nhưng mà về đâu? Chính vì anh vui chơi giữa đời, biết đâu nguồn
cội, chính vì ý thức được cái bé bỏng của con người giữa vũ và trụ, tức là thời
gian và không gian trong triết học Trung Quốc, rồi không biết về đâu cho nên
anh cô đơn vô cùng. Vì cô đơn nên anh khát yêu và khát được yêu. Vì khao khát
tình yêu nên trái tim của anh, khối tình của anh, anh trải rộng ra “cả và thiên
hạ”, nói như Hàn Mặc Tử. Anh yêu từng ánh mắt không kịp bắt, từng tà áo vụt
thoáng hoa, từng tia nắng, từng giọt mưa, từng viên sỏi, từng chiếc lá. Tôi
nghĩ điều anh yêu nhất chính là cái mong manh của từng phút giây hoan lạc trong
cuộc sống. Anh khuyên tất cả mọi người hãy yêu, hãy yêu nhau bởi vì sẽ có lúc
mà đời đốt nến chia phôi dù nhớ thương cũng hoài.Vì anh thường bận lòng với cái
phù du của một nụ cười, cái chớp mắt của một sợi nắng, cái vụt thoáng của một
giọt mưa, cái hối hả của ngày tháng, nên ca khúc của anh thường là buồn.
Nhưng cái buồn trong con người Trịnh Công Sơn không chỉ dừng
lại ở những nhớ thương tiếc nuối không có đối tượng như cái buồn vơ vẩn, cái nhớ
vẩn vơ thường thấy trong cảm xúc của những tâm hồn lãng mạn trữ tình, nó đi xa
hơn chút nữa, nó đi sâu hơn chút nữa, có mở đường cho những chuyến lên đường đi
vào thế giới sầu của những quả tim, những khối óc đã ý thức được điều mà chúng
ta thường nhắc đến như là “thân phận con người.”
Từ ngữ “thân phận con người” thường vẫn hàm một cái ý cam chịu,
có phần tiêu cực trước sự sắp xếp của định mệnh, của số kiếp. Cái sầu về thân
phận con người trong thi ca Trịnh Công Sơn, có thì có đấy thật, nhưng chính cái
sầu đó lại là động cơ thúc giục anh nên yêu chính mình, yêu người, yêu đời, yêu
tình yêu, nó không bợn một mảy may yếm thế.
Cái tích cực của Trịnh Công Sơn không vùng lên mà phản kháng
điều không thể tránh được. Kiếp người đã ngắn ngủi, thêm đó là cảnh con người
giết con người. Vạn vật là vô thường, thêm vào đó là sức tàn phá của chiến
tranh. Trịnh Công Sơn nhập cuộc - cuộc đây là cuộc đời, cuộc sống - giữa cái
màn ấy của của một tấn bi kịch, nếu không hẳn là thảm kịch. Đừng bắt anh yêu đời
với cái vô tư của tuổi thơ mà hãy nhìn anh yêu đời với cái bó tay của một người
đứng trước điều tôi tạm gọi là cái “như-vậy-rồi-đó” của nhân sinh, cái yêu đời
thoáng đôi chút ngậm ngùi, ngậm ngùi mà không chua chát, của một cái đầu đang
cúi xuống trước khổ lụy của tâm giới, nhưng trí tuệ lại ngẩng lên mà hướng về
viễn tượng của cái thoáng, cái thoát, cái độ lượng, cái đạt.
Trước mặt tôi, bây giờ, treo trên tường là bài Cõi Tạm do
chính tay Sơn chép tặng vợ chồng tôi lúc chúng tôi ghé thăm Sơn vào tháng hai
năm 1975 ở Huế. Bài lục bát ấy có hai câu:
Nhân gian về trọ nhiều nơi
Riêng đây là chốn chưa nguôi máu đào.
Trong những ấn bản về sau này của bài đó, tôi thấy vắng bóng
hai câu trên. Tôi không nghĩ rằng chính Sơn đã tự ý bỏ điều nhận xét khách quan
ấy, vì lúc ấy chiến cuộc chưa chấm dứt. Dễ gì mà một người mẹ lại rứt được một
đứa con của mình.
Nhưng mà có vắng hai câu thơ kia thì toàn bộ thi ca của anh
cũng vẫn không vì thế mà giảm giá. Con người nghệ sĩ lang thang dưới vòm trời
này, dưới vùng trời Việt Nam ấy, con người nghệ sĩ này nặng nghìn cân vì cái
suy tư của mình mà cũng nhẹ tênh trong tâm trạng của một tên hát rong, con người
ấy đã xâu một viên ngọc lưu ly vào chuỗi trân châu kia của thơ và của nhạc Việt.
Tôi nghĩ cái lóng lánh của viên ngọc ấy còn mãi sưởi ấm niềm cô đơn và xoa dịu
nỗi khắc khoải của bất cứ ai biết ngắm nó với một cái nhìn phóng thẳng từ trái
tim mình.
Trúc Chi
Trên đường đến phòng triễn lãm tranh của họa sĩ Trịnh Cung tại
California để từ giã người họa sĩ tài hoa này về quê nhà, tôi được thông báo về
sự qua đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua một người bạn trong giới truyền
thông. Tôi đã lặng cả người, nắm tay cô bạn gái chặt hơn, cố nén cảm xúc của một
người ái mộ nhạc TCS. Tôi biết tôi đã vĩnh viễn mất một người dễ thương trong
cuộc sống nàỵ
Tôi có dịp gặp TCS 2 lần vào cuối năm 1997 khi tôi trở về Việt
Nam, một lần tại nhà riêng của ông trong 1 hẻm rộng ở đường Phạm Ngọc Thạch, và
một lần tại đám cưới L., em trai út của tôi. Bỏ qua mọi định kiến chính trị và
những đồn đãi mà nhiều người đã dành cho ông, tôi cùng L. đến thăm TCS vào một
buổi trưa để "merry Xmas" người nhạc sĩ mà tôi yêu thích từ bé. Vì
TCS rất mến và coi L. như em ruột, nên tôi cũng được ông tiếp thân tình như người
nhà. Sau khi thăm hỏi nhau đôi điều, ông mời chúng tôi ở lại ăn trưa tại phòng
khách nhỏ trên lầu. Có 2 người khách khác cũng vừa đến và có mặt trong bữa ăn
đó. Một người là ông Sâm Thương, được biết là bạn rất thân của TCS, hình như là
làm điện ảnh hay báo chí gì đó. Còn người kia, trẻ hơn, có lẽ là một nhà báo.
Khi bước vào phòng khách, đập vào mắt tôi đầu tiên là những bức tranh do chính
TCS vẽ. Vài họa sĩ bạn tôi ở Mỹ thường phê bình tranh TCS, cho rằng tranh không
có giá trị nghệ thuật. Nhưng tôi vẫn yêu thích tranh của ông, nhất là lối vẽ nửa
trừu tượng, nửa siêu thực. Trên tường, ngoài tranh còn có vài tấm hình đen trắng,
chụp kỷ niệm thời văn nghệ sinh viên của ông. Phòng có vẻ bề bộn, giống như một
studio hơn là một phòng khách. Tôi cũng có dịp chú ý đến cái chuông nhỏ mà ông
thường rung để gọi những người giúp việc trong nhà, cái chuông mà tôi đã thấy
trong một cuốn video nào đó về TCS. Bữa ăn của chúng tôi rất đơn sơ nhưng rất
"Huế". Thức ăn được bày biện trên nhiều dĩa nhỏ, và vừa đủ cho một
cái bàn làm bằng thân cây thốt nốt lớn được cưa ra. TCS ăn rất ít vì lúc ấy ông
vừa mới qua khỏi một cơn bệnh nặng.
Khi được hỏi thăm về sức khỏe của mình, TCS khoe với tôi rằng ông đã bỏ hút thuốc và uống rượu sau chuyến bệnh vừa qua, và cảm thấy khỏe rất nhiều. Qua cách nói và khuôn mặt của ông lúc đó, tôi có cảm tưởng TCS là một người rất ham sống và muốn sống để làm điều gì đó. Trong bữa cơm, chúng tôi nói chuyện nhiều với nhau về âm nhạc, nhất là những ca khúc cũ của ông. TCS giới thiệu với tôi tập ca khúc "Những bài hát không ngày tháng" mà sau này ông có dịp ký tặng tôi. Ngạc nhiên vì không thấy sự có mặt của nhiều ca khúc phản chiến nổi tiếng một thời của ông trong tập nhạc này, tôi bèn hỏi nhưng dường như TCS có vẻ tránh nói nhiều về những bài hát đó. Ông chỉ nhẹ nhàng bảo tôi rằng những ca khúc đó không còn hợp với thời đại bây giờ. Rồi ông quay qua khoe với tôi cây đàn guitar được đài BBC tặng. Ðàn bị hư hại, phải nhờ một nghệ nhân nào đó chữa lại. Nhân đó L. cũng đệm guitar cho tôi hát 2 bài hát của tôi sau khi hát 1 bài hát của ông mà tôi yêu thích: Một Cõi Ði Về. TCS ngồi lắng nghe, dáng trầm ngâm, nhưng không nói gì sau khi nghe xong. Tôi hỏi ông về những sáng tác mới, ông cười rất nhẹ, bảo tôi rằng ông đang viết dở dang 1 ca khúc mà cả tháng rồi vẫn chưa xong. Rồi ông hỏi thăm đôi chút về cuộc sống của tôi ở Mỹ và khuyên tôi nên tiếp tục viết ca khúc... Tôi cũng đùa với TCS, lựa vài bài hát của ông trong tập ca khúc trên tay, và nói rằng các bài này nên hát bằng chất giọng Huế thì mới "đạt" cái hồn! Ông cười. Một lần nữa tôi lại bắt gặp ở TCS một nụ cười rất nhẹ, không đầy, xa vắng, nhưng khó quên...
Khi được hỏi thăm về sức khỏe của mình, TCS khoe với tôi rằng ông đã bỏ hút thuốc và uống rượu sau chuyến bệnh vừa qua, và cảm thấy khỏe rất nhiều. Qua cách nói và khuôn mặt của ông lúc đó, tôi có cảm tưởng TCS là một người rất ham sống và muốn sống để làm điều gì đó. Trong bữa cơm, chúng tôi nói chuyện nhiều với nhau về âm nhạc, nhất là những ca khúc cũ của ông. TCS giới thiệu với tôi tập ca khúc "Những bài hát không ngày tháng" mà sau này ông có dịp ký tặng tôi. Ngạc nhiên vì không thấy sự có mặt của nhiều ca khúc phản chiến nổi tiếng một thời của ông trong tập nhạc này, tôi bèn hỏi nhưng dường như TCS có vẻ tránh nói nhiều về những bài hát đó. Ông chỉ nhẹ nhàng bảo tôi rằng những ca khúc đó không còn hợp với thời đại bây giờ. Rồi ông quay qua khoe với tôi cây đàn guitar được đài BBC tặng. Ðàn bị hư hại, phải nhờ một nghệ nhân nào đó chữa lại. Nhân đó L. cũng đệm guitar cho tôi hát 2 bài hát của tôi sau khi hát 1 bài hát của ông mà tôi yêu thích: Một Cõi Ði Về. TCS ngồi lắng nghe, dáng trầm ngâm, nhưng không nói gì sau khi nghe xong. Tôi hỏi ông về những sáng tác mới, ông cười rất nhẹ, bảo tôi rằng ông đang viết dở dang 1 ca khúc mà cả tháng rồi vẫn chưa xong. Rồi ông hỏi thăm đôi chút về cuộc sống của tôi ở Mỹ và khuyên tôi nên tiếp tục viết ca khúc... Tôi cũng đùa với TCS, lựa vài bài hát của ông trong tập ca khúc trên tay, và nói rằng các bài này nên hát bằng chất giọng Huế thì mới "đạt" cái hồn! Ông cười. Một lần nữa tôi lại bắt gặp ở TCS một nụ cười rất nhẹ, không đầy, xa vắng, nhưng khó quên...
Vài hôm sau, tôi lại gặp ông trong tiệc cưới của L., nhưng vì
bận rộn lo tổ chức nên tôi không có dịp trò chuyện với ông...
Tôi về lại Mỹ, ít khi được nghe nói về sức khỏe của TCS. Ðến
sau Tết Việt nam, năm 1999, tôi nhận được tập ca khúc ông ký tặng, với lời đề tặng
"rất TCS": "Ðầu năm muốn viết điều gì đó cho K., nhưng lại chẳng
biết viết gì". Tôi có cảm giác, đối với TCS, mọi điều đều vô thường, không
biên giới, không rõ ràng. Nhưng tôi rất hiểu, TCS là người có một tấm lòng,
đúng như điều ông đã viết trong bài hát Ðể Gió Cuốn Ði: "Sống trong đời sống
cần có một tấm lòng..."
Hoàng Việt Khanh





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét