Trịnh Công Sơn - Nơi vùng ưu tư thành tiếng du ca
Như một sợi chỉ luồn theo cây kim, tin Trịnh Công Sơn mất đến
với chúng tôi trong buổi tưởng niệm ngày giỗ thứ 40 năm của nhà thơ Ưng Bình
Thúc Giạ Thị tại nhà văn học nghệ thuật ở đường Lê Lợi Huế. Tối ấy anh em nghệ
sĩ đến nghe bình thơ khá đông, chúng tôi, chị Hỷ Khương, Bửu Ý, Gia Phàm, Như
Ngân, Xuân, Xuân Quế, tôi và một số anh chị em nghệ sĩ khác đứng xúm vào nhau,
nghe sợi chỉ theo cây kim níu mình xích lại gần hơn một tí với người bạn bên
mình trong nỗi nhói đau một chút nơi tim.
Bỗng nhiên ít lời, một chút cay nơi mắt, một chút rã rời nơi
vai, chúng tôi đứng như thế quây quần chôn chân, hình như có ai nói như một lời
vĩnh biệt nủa buồn nửa vui: "Thôi rứa là từ nay hắn bỏ mình đi rong chơi
chỗ khác... hắn bỏ đi thiệt rồi!"
Cái tên lãng tử nhu mì này! Tiếng hát lênh đênh, "chén
rượu say uống hoài", rong chơi cả một kiếp người, bây giờ dứt áo ra đi
‘lìa bầy, chim bỏ đường bay‘, thỏng tay viễn du nơi chốn nghìn trùng...
Sơn ra đi! Cái vòng quây quần - như chúng tôi đang đứng với
nhau chiều hôm ấy, nhiều đứa tóc đã rối bời sương muối - cái vòng bạn bè hay
cái vòng tử sinh của thế hệ thập niên 40-60 chúng tôi, như chúng tôi đã thường
đứng hay ngồi như thế mỗi khi gặp nhau ở lứa tuổi 20, như sút đi chốt mộng,
chùng giây, tuột phím... cái vòng lỏng lẽo, rã rời!
Dẫu biết rằng trong mấy mươi năm hễ ở đâu có Sơn và tiếng hát
của Sơn thì cái vòng này càng nớirộng ra,như những làn sóng, khởi đầu từ một điểm
xoáy nơi nào đó ở Huế, có thể nơi khúc sông Bến Ngự, hay nơi hồ Tịnh Tâm, hay ở
bến Bao Vinh, hay ở đồi Vạn Niên, ở đó Sơn ném một viên sỏi là tiếng hát của
mình vào đấy và làn sóng lan ra, từ thế hệ chúng tôi cho đến thế hệ trẻ ngày
hôm nay, từ Huế đến Sài-Gòn, Hà Nội, Cà Mâu hay Lạng Sơn, vượt qua mấy lần đại
dương và cái vòng quây quần quả đất bao la, hôm qua, ngày nay và có lẽ mai
sau...
Sơn là Tiếng Hát Trịnh Công Sơn của Mọi Người.
Nhưng chiều hôm ấy tôi vẫn thấy - hay bởi mình muốn thấy như
vậy - Sơn như vừa mới đứngdậy rangoài châm điếu thuốc, rồi sẽ trở lại ngồi giũa
chúng tôi, trong vòng bạn bè, có thể chỉ là ba, hay bốn, hay mười, hay hai mươi
đứa, ở Huế, tại nhà một người bạn nào đó, Chỉ, Ý, Tường, Tôn, Hùng, MLan, KLan,
Điền, Hạnh, Thọ, Kỳ, Lý... ở nơi điểm xoáy sâu nhất của sông Hương, là vùng tâm
tư của những người bạn đang tuổi thanh xuân, ngồi yên, ít lời, đôi môi mỏng
thoáng nụ cười, mi mắt chớp sau gọng kính trên chiếc mũi thanh, lắng nghe những
nỗi sôi, những phiền muộn quanh mình, như lắng nghe chính con tim mình... trong
vùng tôi xin gọi là vùng ưu tư của Huế những năm 60.
Vòng Bạn Bè
Chính trong những năm tháng ấy lần đầu tiên tôi gặp bộ ba -
chữ của HPNTường - Tường - Cường - Sơn. Nguyên do thật là rất Huế, có thể tìm
thấy rải rác đâu đó trong các bài hát của Sơn.
Một buổi chiều nắng vàng chiếu nghiêng trên nón lá, đường phố
chính vắng người, không gian yên tĩnh có thể nghe thấy cả tiếng thời gian, chỉ
có rộn rã tiếng guốc của mấy cô nữ sinh viên - đã có thể là BDiễm, TMai, Han,
KLan hay MH, NB, DL, KL - đi dạo phố mua sách vở, tà áo lụa lướt bay trong nắng,
bụi mờ đàng xa, và có một chàng trai xa lạ nào, có lẽ từ xứ Quảng ra, "chiều
một mình qua phố", đang đứng ngơ ngác nhìn đường phố, bỗng tà áo lụa như
có sức hút nam châm, chàng trai thấy mình thơ thẩn bước theo.
Chiều hôm sau nghe báo có anh Tường đến thăm mượn sách, lúc ấy
anh Tường tuy đã đi dạy văn nhưng học thêm môn cử nhân triết cùng khóa với tôi,
anh đến với hai người bạn nữa, cái người hôm qua đi theo tà áo lụa và người kia
là Sơn, "đi theo cho vui" như Sơn bảo. Chiều hôm sau nữa thì tôi cũng
biết thêm là trong nhóm bạn của mình, có đứa là bạn của Sơn.
Huế nhỏ bé là như thế ấy, người này là bạn của bạn cuả bạn của
bạn... và bạn bè thành ra những vòng tròn quây quần với nhau. Chỉ cần một tiếng
"Ới!" của thằng bạn ở trước ngõ là đứa trong nhà đã vội vàng với cái
mũ bê-rê dắt xe đạp ra mà đi rong suốt ngày làm cho cả nhà chới với chờ cơm...
HPNTường hôm ấy thao thao, vì lấy cớ đi mượn sách nên phải nói về sách. Chúng
tôi trao đổi với nhau một vài đoạn về chủ nghĩa hiện sinh trong cuốn Hữu Thể và
Hư Vô của J. P. Sartre, một chút về ý niệm thời gian của Heidegger, mà chúng
tôi đang đọc ở trường.
Sơn ngồi nghe chúng tôi bàn cải, phân tích, hình như Sơn
không bao giờ thay đổi dáng ngồi của mình, khi nào cũng như thế, tham dự nhưng
không ồn ào, hiền hậu và luôn luôn thoải mái như khi ở giữa đám bạn thân, lắng
nghe, chú ý mà không chút chi cố gắng, ít tranh cãi, dễ thân thiện tự nhiên, một
chút phù phiếm và mỏi mệt nơi dáng người, và ánh mắt xa xôi với những chuyện
cãi vã cốt dành phần lý về mình cũng như với mục đích khoa danh mà mỗi người
sinh viên Huế thời ấy thường đặt ra cho mình.
Gió Phương Tây
Chủ nghĩa Hiện Sinh với Heidegger, Sartre, A. Camus, phong
trào điện ảnh với Jean-Luc Godard, thể điệu chanson với Juliette Greco,
Francoise Hardy ở phương Tây đã đến với lớp trẻ chúng tôi trong những năm của
thập niên 60 như một làn gió chướng thổi qua cái thành phố Huế, nhỏ bé, đóng
khung, còn rất cổ kính trong cách nghĩ, cách làm ấy.
Những danh từ như hiện sinh buồn chán, xao xuyến, hư vô, thời
gian, hữu hạn và vô hạn, buồn nôn, thân phận con người, sự vô nghĩa của cuộc đời,
nỗi hoài công phi lý của Sisyphus(1), ý niệm về siêu hình, bản thể học đã như
những tiếng gõ bí ẩn vào cánh cửa tâm hồn của lớp thanh niên trẻ chúng tôi thời
ấy như những mời gọi phiêu lưu vào những vùng đất lạ của tri thức. Bây giờ nhìn
lại thì thấy mình dại khờ, bởi chính những tư tưởng mới này chẳng có chi là mới
so với triết lý Phật giáo cả - thế nhưng lúc ấy chúng có một sức thu hút quyến
rũ kỳ lạ trong cái khung cảnh đều đều êm đềm của xứ Huế, thành trì của thủ cựu
và khuôn sáo, là những hàng rào ước lệ mà lớp trẻ thường hay muốn vuợt qua.
Chúng tôi thường gặp nhau để kể cho nhau nghe về một quyển
sách đã đọc, soạn bài, tranh luận. Và có lần với cây đàn ghi-ta, Sơn bắt đầu
hát cho chúng tôi nghe
Khi nghe Sơn hát tôi giật mình. Vì Sơn hát... môn siêu hình học
về cuộc đời, về tình yêu đó! cái môn mà những con sâu gạo triết - như Đinh Cường
vừa nhắc lại, là chúng tôi đang còn điên đầu vật lộn với nó, nhưng ngược lại,
chẳng có một chút khô khan, trừu tượng, gượng ép hay kỳ quặc gì cả, Sơn đã hát
triết học như một bà mẹ Huế có giọng nói hay nhất trên đời kể câu chuyện cổ
tích Tấm Cám.
Như một con ve vừa mới thoát xác lần thứ mấy mươi nghìn năm từ
lòng đất của Huế, đã đi về thường xuyên trong tâm thức Huế, đã rung động và cảm
ứng với trời đất Huế, với một âm điệu giản đơn thoát từ gam trầm của giọng Huế,
Sơn đã trả lời trong cảm ứng vô thức những tiếng gõ cửa từ phương xa và giải thể
chúng tôi ra khỏi ngõ bí của tư duy.
Trong cái không khí sôi nổi của tuổi trẻ đô thị ham mê siêu
hình, Sơn đã bắt đầu hát thay vì cãi nhau, thay vì lý luận dông dài với đám bạn
bè, với cả thiên hạ, Sơn hát cho vui với anh em như Sơn thường nói, Sơn hát như
một sự tham dự vào những đàm luận của bạn bè thuở đó và về sau của cả thiên hạ,
mà đúng thật, Sơn hát với những ưu tư thâm kín nhất của tuổi hai mươi chúng
tôi, với những tư duy của thế hệ trẻ chúng tôi và với một cách đặt vấn đề - biệt
ngữ của phong trào học triết học siêu hình thời ấy, khác với những người nhạc
sĩ đi trước.
Sơn hát như cách thế cổi dép đội lên đầu đi ra khỏi giảng đường
của Thiền sư Triệu Châu(2) không phải là để bỏ đi, từ chối, mà là một cách thế
mở ngỏ cho sự sống như Triệu Châu.
Hãy xem: Sơn hát đề tài có cái gì là khởi đầu, có gì là cái
cuối cùng- ngõ bí của triết học đấy, nhưng với chất keo của một điệu ca bông
đùa diễu cợt, và một chút ranh mãnh hiền triết của một thiền sư thỏng tay vào
chợ, Sơn hát "không có chi đâu này, là có cái chết đầu tiên, không có chi
đâu này, là có cái chết cuối cùng... ", hát như con bê điên cứ đánh lưỡi
tùy theo cảm hứng của nó lúc chạy theo chế diễu mọi người ở trên một đường phố
nhỏ của Huế. Người nghe có thấy mâu thuẫn hay không cũng phải mỉm cười, và bỗng
ngộ được tính phi lý của sự đối nghịch trước sau.
Sơn hát đề tài bản thể và hư vô và nhắc chúng tôi tìm về dòng
sông Hương nhìn nước chảy, để thấy hay nghe "tay hư vô thắp nến, chiều
chơi vơi lên cao, rồi dòng sông cũng qua mau, đưa người gợi mối sầu... "
trong một giai điệu tiếng nước chảy ngược về nội tâm, để thấy sông không chảy
mà tâm mình đang chảy. Ai định nghĩa được hư vô? Khổng tử cũng đã đến dòng sông
để thể nghiệm với tiếng thở dài: Nước trôi mãi như thế ư ? Phạm Duy hát
"im nghe nước chảy về đâu" trong một cảm giác buồn bã trôi xuôi. Với
ý niệm hư vô, Sơn đặt lại vấn đề và giải mã sự biến đổi, sự trôi chảy của giòng
sông với cảm tính triết học của mình trong âm giai sâu lắng, giữa tỉnh và mê,
giữa buồn bã và giác ngộ.
Sơn hát đề tài nỗi hoài công của Sisyphus bằng tiếng vang của
vết lăng trầm... phiến đá... ưu phiền... của một cuộc đời phiêu lãng quên tuổi
xanh... quê nhà xa vời vợi... cô liêu vây quanh, của mùa thu bay đi với vòng
tay buồn ôm nuối tiếc và đưa ta về với khung cảnh Huế - không phải Huế thơ mộng
mà là một Huế như chốn lưu đày đồng thời là quê nhà trong nỗi nhớ, bằng một tiếng
than dài như xâu chuỗi âm hưởng quấn quýt luân hồi.
Cũng phải nói thêm rằng thuở ấy, việc đi hát đối với các vị
cha mẹ người Huế là một chuyện đáng nghi ngờ, nền nếp gia phong được rào lại
kín cổng cao tường, không ai muốn cho con mình đi hát... hỏng đàn đúm rong chơi
với những kẻ lãng tử giang hồ. Những bài hát mới do đó đối với chúngtôi thườngnhư
những trái cấm. (...)
Thanks Camel for pointing out!
Tình Huế
Ở Huế có lẽ có một mối tình thủy chung duy nhất không bao giờ
tàn phai, đó là tình yêu cảnh Huế của người Huế, như núi Kim Phụng mãi mãi đứng
đó mà yêu hoài sông Hương bạc tình chảy xuôi, sông núi đã un đúc mối tình keo
sơn của ngưới Huế với cảnh vật quanh mình ngay từ khi nằm trong nôi nghe mẹ hát
"ru con cho tới làng Hồ..." "thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim
Long...", hay "ru em cho thoét cho muồi, để mẹ đi chợ... mua vôi chợ
Quán chợ Cầu, mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh".
Huế có lẽ là thành phố duy nhất trên quả địa cầu có cả núi và
sông nằm ngay trong lòng, để cho người Huế dù cho đi xa mấy mươi năm, mấy mươi
nghìn vạn dặm vẫn cứ mỏi mòn mong ngày trở lại dòng sông, trở về với núi.
Và tình nhớ Huế hầu như trở thành một cơn "mê chiều"
của cảnh thức Huế lan khắp năm châu bốn bể từ Cali cho đến Sydney cho đến Paris
cho đến Muenchen, Saigon, Hanoi, và ở nơi đâu khác nữa trên địa cầu có mặt người
Huế, hiện tượng Nhớ Huế như một khủng hoảng căn niên của Huế hôm nay, và trong
giờ phút đứng ngay trong lòng đất Huế chính tôi cũng thấy như mình đang đứng
trong một bức tranh vẽ một người đang nhớ Huế...
Vườn cây, hoa lá, nắng mưa, mây gió, cảnh chùa đã ôm ru thời
thơ ấu và tuổi niên thiếu của mỗi con người Huế, đã uốn nắn trong tâm thức sức
nhạy cảm của người Huế trước thiên nhiên, đã trở thành những âm vang gợi cảm
trong suốt cả đời người mỗi khi nghe mưa rơi, nghe lá đổ, nhìn nắng lên hàng
cau, nghe hoa bưởi bắt đầu lên hương trong khu vườn buổi sáng...
Huế bốn mùa đã đưa chúng tôi quanh quẩn đi những con đường
Thành Nội, Đông Ba, Ngự Viên, Lê Lợi, Bến Ngự, Nam Giao, An Cựu, Vĩ Dạ, Kim
Long, Linh Mụ, Tịnh Tâm, Đại Nội... Những cuộc đi dạo thơ thẩn trên những con
đường nhỏ, thường là đi bộ hay đi xe đạp chậm rãi - cuộc sống ở Huế dạo ấy
không có cách chi khác hơn là chậm rãi, từ từ, thong thả, hình như song song với
đi học, đi dạo là một thứ giải trí không thể thiếu trong thời khóa biểu của mỗi
một người Huế ở thị thành.
Đi dạo, đi bộ, đi lang thang vì thế đối với chúng tôi đã là
những cuộc hành thiền ngẫu nhiên, ở đó mỗi viên sỏi trên đường đi, một dòng nước
nhỏ sau cơn mưa, mỗi chiếc lá rơi tan tác trên đường, mây chiều lãng đãng trên
sông, nắng le lói trên vỉa hè, sự yên tỉnh của vườn cây, một đóa hoa vừa mới nở,
một tiếng chim kêu, đã là những tín hiệu về cõi đời, về ý nghĩa của thân phận
làm người, về sự phù du của thời gian và về ý nghĩa của sự đợi chờ, về tình
yêu... Và mỗi cuộc đi, bên cạnh những sôi nỗi ồn ào của tuổi trẻ, thường có những
bước lắng nghe, chìm đắm trong cảnh vật, đã có những chiêm nghiệm trước núi và
sông, "con chim nó đậu cành tre, mưa nắng ở trọ bên trong mắt người".
Ca khúc của Sơn, nhất là ca khúc tình yêu, thường đã mang nặng
cảnh thức Huế như một nguồn sống cho ý thơ và âm điệu.
Cho nên khi nghe nhạc của Sơn, người nghe nhất là người Huế
thường có cảm giác mình đang đi trên một con đường nào đó ở quê hương, hay đang
ở trên đường đi trong cơn mưa "thì thầm dưới chân ngà", trong
"mùa hạ khói mây" hay "mùa đông vời vợi", để đến thăm người
yêu, chỉ đến một thoáng rồi đi, chỉ để nhìn mặt hay không nhìn mặt người yêu rồi
quay trở về trên đường sỏi đá bên khúc sông Bến Ngự, để vùi trong cơn sốt
thương yêu "gọi thân hao gầy, gọi hồn ngất ngây".
"Diễm xưa" là mối tình đầu của Diễm Xưa - sau Ướt
Mi một thời mê say giang hồ, Diễm Xưa đã trở thành ca khúc tình đầu của Sơn và
"Diễm" đã trở nên một huyền thoại "Xưa" như chuyện Từ Thức
gặp tiên, như một câu chuyện tình cổ lụy cho đời và cho cả chính Sơn.
Tình yêu đã đến với Sơn như một huyền thoại bất ngờ, như một
cơn mưa đến từ cõi hoang sơ rơi trên tháp cổ, nên thật bàng hoàng. Có lần Sơn bảo,
con gái Huế yêu thật lạ lùng, trong cơn đau vẫn trốn mẹ, tung mền mặc áo mưa
băng qua cầu chạy như bay đến để chỉ đặt một trái cây hoặc một bông hoa trước cửa,
không cần gặp người yêu, rồi ra về. Để cho người con trai sửng sờ, ngạc nhiên
và lặng người trong nỗi nhớ nhung "buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa
qua, trên bước chân em âm thầm lá đổ, chợt hồn xanh buốt cho mình xót
xa"... nỗi nhớ vết chim gi, bay qua vùng đất rộng, ước sao bờ sông Bến Ngự
nối liền. "Chiều này còn mưa sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi
làm sao có nhau... hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau". Diễm ơi, Sơn
ơi, những mối tình ở Huế!
Tôi nghĩ rằng không ai cả ngoài "Diễm xưa" vẫn luôn
luôn là bóng dáng người tình trong những tình khúc TCS. Trong Như Cánh Vạc Bay,
Quỳnh Hương, Tình Nhớ, Hạ Trắng, Mưa Hồng, Gọi Tên Bốn Mùa, Tình Sầu v.v... vẫn
thấp thoáng những nét đan thanh, chấm phá của Diễm: mảnh khảnh đến gió thổi
bay, vai gầy guộc như đôi cánh cò (chúng tôi thường chế diễu nhau như thế), tay
gầy lêu khêu, nét xanh xao, mái tóc rối quăn ôm gương mặt trái xoan nhỏ nhắn,
bóng dáng chợt đến chợt đi chợt ẩn chợt hiện như trong Liêu Trai, dáng điệu thì
yếu đuối như lúc nào cũng có thể ngất đi, nhưng trong lòng thì đầy cả đam mê
bão táp.
Cái hình ảnh mảnh mai ẻo lả, lãng đãng như gần như xa, như có
thực mà như không có thực ấy, khác hẳn với các khuôn mặt tình và khuôn mặt đẹp
theo ước lệ trong những ca khúc tình yêu thường nghe, vẻ đẹp hao gầy mong manh
trở nên nguồn cảm hứng không ngừng trong ca khúc tình yêu của TCS, xúc cảm từ một
cuộc tình đam mê, trong trắng, mối tình học trò ngây thơ đầy hương sắc và ánh
sáng mà Sơn chưa kịp nhận được thì đã thoáng bay.
Nếu tình yêu cảnh Huế keo sơn bao nhiêu thì tình yêu của người
con gái Huế lại càng phù du như đám mây trời, như cơn mưa mùa hạ bấy nhiêu.
Hình như là một thông lệ cho những người yêu nhau ở Huế: yêu ai thì rất mực yêu
ai, nhưng khi tính cuộc trăm năm với người nào thì cha mẹ hay tiếng nói của mẹ
cha đã nằm sẵn trong tiềm thức của mỗi người quyết định, và thường khi quyết định
một cách thực tế là không lựa chọn người mình yêu, dù "nỗi lòng anh đầy"
nhưng "lời ca anh nhỏ" bé đơn sơ quá cho nên ước mơ "ngày nào
mình còn có nhau xin cho dài lâu" đã phôi pha để chỉ còn "Này em em
hãy phụ người, này em xin cứ phụ tôi" "em cứ phụ đời" bởi vì trời
đã sinh ra con gái Huế là để "yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau"
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Ai bảo Sơn không khổ vì yêu, thứ tình "mật ngọt trên
môi" trở thành "mật đắng trong đời"? Cho cả cuộc đời, suốt cả bốn
mùa mưa nắng "đôi khi thấy trong gió bay lời em nói, đôi khi thấy trên lá
cây ngày em đã xa tôi". Có khổ tận trong tình yêu, có đạt đạo trong nỗi khổ
mới thể nghiệm được nghĩa vô thường của "yêu là chết" và có thể đồng
cảm với niềm vui và nỗi khổ của những ngưòi đang yêu. Trong tất cả ca khúc tình
yêu của Sơn luôn luôn có tấm tình riêng chia với tấm tình chung, như đã
"yêu em" thì "yêu thêm tình phụ", như "trên lá
khô" chảy ra "dòng suối" tình yêu không tuyệt vọng...
Và đền bù lại cho những mối tình mây nổi,đã có tình bạn hữuthật
chí thiết, đưa vai hứng đỡ những cơn tuyệt vọng chết người "đừng tuyệt vọng,
ai ơi đừng tuyệt vọng!" "Bạn bè ở Huế thương nhau lắm, một đứa vợ la
chín đứa kinh", có một nhà thơ nhận xét như vậy sau này. Cô đơn vì người
tình hờn dỗi lắm khi không cô liêu bằng khi "bạn bè rời xa chăn chiếu".
Và khi bạn yêu người nào thì hình như mình cũng yêu người ấy, khi bạn thất tình
thì mình cũng đau khổ không kém gì nỗi đau của bạn. Trong những lúc Sơn lụy vì
tình, đã nhiều lần thay bạn đi thuyết khách, giải thích, hóa ra ai yêu nhau ai
giận nhau thì bạn bè đều mau mau đứng ra chịu trận như chính mình là người
trong cuộc. Và chính Sơn cũng đã tâm sự với tôi như thể tôi cũng là người trong
cuộc của hai người. Sơn ơi, người trong cuộc hay người ngoài cuộc, ai bỏ đi ai ở
lại với tình, ai buồn hơn ai?
Trong rất nhiều tìnhhuống của những năm sáu mươi ở Huế, Sơn
thường đứng ngoài cuộc, trong lúc chúng tôi dấn thân trong vòng khổ nạn của Huế
1963, nhưng mãi đến hôm nay mới biết được - dù hãy còn mơ hồ - người trong cuộc
hay người ngoài cuộc, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm hơn ai, và tình bạn hữu
đã khắn khít như thế nào giữa người đứng trong và người đứng ngoài hàng rào dây
kẽm gai.
Mái Chùa
Đối với người Huế, và đối với chúng tôi, yêu cảnh Huế hầu như
cũng đồng nghĩa với yêu cảnh chùa ở Huế. Hình như trong tất cả những lần đi ngoạn
cảnh hay đi lang thang ở Huế, vô tình hay hữu ý nơi đến cuối cùng thường là bước
vào cổng chùa, đứng nghỉ nắng hay chờ tạnh mưa dưới mái tam quan hay vào xin một
chén nước chè tươi đỡ khát hoặc một chén trà ướp sen cho ấm lòng, tiện thể vào
chiêm ngưỡng tượng Phật, thắp hương cho vị tổ sáng lập chùa, thăm thầy trụ trì,
nghe một câu chuyện thiền trong một không khí ít lời, thong thả, mát dịu.
Thế rồi bóng nắng mời gọi, hoa trái trong vườn mời gọi, cỏ
cây trong sân mời gọi là chân bước theo chân, là mắt đưa theo mắt, là tai chìu
theo tai, ngẩn ngơ trong vườn sắn, vườn chè, rừng cây cổ thụ, nơi hồ sen, nơi
tiếng ve kêu, nơi chùm khế sây trái, dừng lại nơi lá xanh reo, nơi suối róc
rách, nơi hoa sen nở, nơi hoa mộc thơm hương - dù chỉ một vài giây vô niệm,
không chủ ý - nhưng cũng đủ để thể nghiệm sự tĩnh lặng thường còn trong vạn vật,
ở đó thong dong đi về không còn ngăn cách là thấy và nghe, cảm và nghĩ, xúc
giác và khứu giác trong một toàn thể bao hàm tất cả những mâu thuẫn của sự trôi
đi và dừng lại..
Buổi dừng chân có thể chỉ đủ để bóng nắng nghiên trên triền đồi
hay cơn mưa vừa tạnh hạt, nhưng cũng có thể để ngả lưng đợi giờ tắt cơn nắng gắt
hay cơn mưa dai dẳng chưa dứt, để thấy hơn một lần hư không là nắng và vô thường
là mưa.
Hay nhiều khi có thể lưu lại chùa vào một đêm trăng sáng,
nghe tiếng hòa điệu rộn ràng của trăm thức hương lồng bóng nguyệt hay cảm được
tiếng kinh Phổ Môn cầu an tẩm ướt ánh trăng thấm đượm thân thể như giọt nưóc
cành dương, rồi bỗng chiêm nghiệm được trong khoảnh khắc tiếng yêu đương và tiếng
yêu người cũng chỉ là một, "yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ".
Có lẽ trong tất cả những người thanh niên trẻ của thế hệ
chúng tôi, Sơn là người đã bắt gặp được sự đốn ngộ bất ngờ ấy sớm hơn ai cả,
không phải nghĩa "sớm" của "trước sau" mà là đã "từ
bao giờ" không ai hay - trong vòng tay của người mẹ mộ đạo Phật ru đứa con
đầu lòng, của gia đình thành tâm thương Phật anh em có nhau khắn khít, của cả mấy
đời người Huế thương chùa, của cả mảnh đất thần kinh thâm u miệt mài hai chữ tu
tâm - nên đến bây giờ, chĩ cần một chút "run rẩy" của lá là đã chuyển
động "Phật tâm viên tròn thể tánh" trong ý nghĩa đơn giản nhất: chứng
ngộ, thấy được chữ "thương ai" (ta và người= từ bi) viết đậm nét trên
chiếc lá "hư không".
Mỗi ca khúc của Sơn vì thế - như ít có nơi những kẻ đi trước
và những người đồng thời với Sơn trên lãnhvực âm nhạc có thể nghe và cảm nhận
như những công án thiền về cuộc đời, mà mỗi câu hỏi siêu hình về nó đều bị trả
đũa bằng một hay hai điều tầm thường, vớ vẩn trong chính cuộc đời; ở đó chữ
nghĩa mất hết tính cách ước lệ, qui luật văn phạm, sự vô nghĩa nằm sát bên có
nghĩa. Có ai không bất ngờ khi nghe câu hỏi đạo đức "Sống trong đời sống
phải có một tấm lòng, để làm chi em có biết không?" được Sơn phổ thành bài
ca với câu trả lời: "Để cho nước cuốn đi", cũng chẳng khác chi công
án thiền: "Ý nghĩa thật sự của Bồ Đề Đạt Ma đi về phương Đông là gì?"
Trả lời: "Cây trắc bá trong sân!" Trong bài ca, vô nghĩa đứng cạnh có
nghĩa mà vẫn không nghịch lý, người nghe không thấy chõi tai mà ngược lại cảm
thấy cảm xúc lăn tròn theo tiếng hát, và trong chuỗi âm thanh theo đuổi nhau, mọi
nghịch lý, phi lý làm cho con người nghẹt thở của một Sisyphus hì hục lăn tản
đá cuộc đời đều được giải tỏa bằng một hơi thở dài trút hết ưu phiền của tiếng
hát lênh đênh.
Mỗi tiếng mỗi chữ trong các ca khúc trở thành những đơn thể của
tâm thức trong tính cách hiện sinh duy nhất, tràn đầy sinh động của chúng đã được
Sơn sử dụng một cách sáng tạo như những phương tiện "tiếng vỗ của một bàn
tay"(3) nhằm đánh thức âm hưởng nội tâm của mỗi người nghe, từ đó người
nghe có thể đưa thêm vào bàn tay của mình để gây âm thanh cho chính cảm xúc của
mình. Và tiếng ca, từ những cọng lá khô không lời, những viên sỏi vô tri im tiếng,
bỗng xôn xao "cây lá vào mùa", bỗng lao xao sóng vỗ bờ xa...
Những ý niệm, những ngôn từ trong đạo Phật - hư vô, hư không,
cõi tạm, vô thường, cõi đi về, tiền kiếp, từ bi... thường được xem như những
món "cơm chay" khắc khổ, đã được Sơn hóa giải rất tài tình trong lời
ca theo nguyên tắc suốt cả 49 năm Phật không thuyết một lời nào, bỏ hết tất cả
những chất khô cứng đóng khung của ngôn ngữ dù đó là lời kinh, chúng được lắng
nghe và linh cảm trong bản chất âm giai nội tâm đối đãi nguyên sơ nhất của
chúng. "Tôi đã lắng nghe im lặng dòng sông... tôi đã lắng nghe im lặng ngọn
đồi... tôi đang lắng nghe im lặng của tôi... tôi đã lắng nghe im lặng thở
dài". Bài hát sâu lắng như một buổi toạ Thiền quán sát hơi thở.
Hư vô, cõi tạm do đấy được xử dụng như tiếng thô "đục"
của mõ và "thanh" bổng của chuông, hai phương tiện của nghe kinh ngộ
đạo đơn sơ nhất, căn cứ vào tầng rung cảm âm thanh bẩm sinh của mỗi con người,
nói nôm na là tiếng lòng của mỗi người mà âm vang của tiếng mõ và tiếng chuông
có thể làm nở "đoá hoa vô thường", có thể chở ta ra đi viễn xứ và
mang chúng ta trở lại quê nhà.
Có thể nói tính cách tân kỳ của ca khúc TCS nằm ở chỗ trong
khi Sơn chuyển ý niệm sắc không vào âm nhạc, Sơn đã làm mềm chúng bằng cách dựa
vào giai từng cơ bản đối đãi giữa giải thoát và cõi trần cát bụi, trong tương
quan chuyền qua đối lại giữa đục - thanh, trầm - bổng của mõ và chuông, từ đó
tùy tâm mà chuyển đổi và ứng dụng tất cả những phương tiện khác của âm nhạc - tứ
đại cảnh, ru em, hò hay điệu blue buồn hoặc điệu soul của phong trào tân nhạc
Âu châu chẳng hạn, để sáng tạo nên thể cách riêng tư của mình. Trong tất cả
dòng chảy của âm nhạc TCS, sự tĩnh lặng thoát ra từ âm thanh "chuông
mõ" luôn luôn làm nền tảng cho sự cảm nhận nét nhạc của mỗi bài ca, dù cho
bài ấy có dồn dập đến đâu.
Chính nhờ nguyên tắc đối đãi, mà lời và nhạc của Sơn luôn
luôn biến chuyển không ngừng, trong nắng hư vô đã thấy tóc em dài, đường xa áo
bay, và lời ru của mẹ lời ru cho em thường dẫn ta đi vào cõi đời thường như một
cõi đời mộng, để cho mộng thực luân lưu trong nội tâm quyện tròn thành một lời
êm diụ như tiếng kinh dỗ dành giấc ngủ.
Có thể so sánh sức mạnh sáng tạo trong thơ nhạc của TCS với một
công án của Hakuin, thiền sư và họa sĩ ngộ đạo nhất của Nhật Bản:
Tay không mà có cầm cán mai;
Đi bộ mà ngồi lưng trâu;
Người đi qua trên cầu,
Cầu trôi, nước chẳng trôi!
Cái cầu cố định hóa mềm dưới chân, nỗi ưu tư hóa mềm trong tiếng
du ca. Trong cái nhìn của người nghệ sĩ, năm căn hay lục căn được cởi bỏ mọi giới
hạn, để chỉ còn tự do sáng tạo, ở đó nghe là nhìn "đôi khi thấy trong gió
bay lời em nói", ngửi là nghe, vị giác cũng là nghe, "tôi đã lắng
nghe im lặng mặt người", mà Hakuin (Thiền sư Bạch Ẩn) gọi là phạm trù
"kikan" của mỗi công án, phạm trù của cơ cấu mềm dẻo và tự do. Trong
cái nghe sáng tạo, tiếng rơi thô kệch của hòn đá rớt xuống cành mai bỗng hóa thành
tiếng chim ca thánh thót hát khúc qua đời! Đứng dưới mái chùa, TCS đã trả lời
Sisyphus bằng một công án như thế!
Một Niềm Vui,
Một Giọt Nước Mắt
Trong tất cả các bài hát của Sơn, có một bài duy nhất mà tôi
ít thích nghe cũng như ít thích hát, đó là bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui
sáng tác sau 1975. Không phải vì âm điệu buồn tẻ hay lời ca không hay, nhưng vì
mỗi khi nghe hát bài này tôi lại nhớ đến Sơn của lần gặp lại năm 1977, khi tôi
trở về Huế thăm nhà sau 12 năm du học.
Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế
thật là - người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ tả chân...
"xanh xương mét máu", một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ
kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Đi trên đường phố
ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người
ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.
Khác hẳn với một Huế ngày trước mà mỗi nụ cười là ánh sáng
thân hữu hiếu khách, mà mỗi cái nhìn có phản chiếu sự trong trẻo của nước sông
Hương trên khúc sông Linh Mụ mời gọi tha nhân đi sâu vào một câu chuyện mới làm
quen, Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế
bị phá sản hết mọi thiết tha.
Hãi kinh và ngơ ngác đọng trong mắt, trên nét mặt của mỗi người
những vũng sâu thâm quầng. Lần trở về Huế năm ấy cho tôi một nỗi bơ vơ còn hơn
những nỗi bơ vơ ở xứ người, vì đâu đâu hình như ai chẳng tin ai, ai cũng nghi
ngờ lẫn ai, ai cũng oán hờn với ai, ai cũng sợ ai.
Chỉ có một niềm vui duy nhất: gặp lại gia đình và gặp lại bạn
cũ. Trong khoảng thời gian mấy mươi ngày ở Huế, Sơn là người bạn đến thăm tôi
nhiều lần nhất. Khác với ngày trước thường đi bộ ba,bộ bốn,lần này Sơn đến một
mình. Vẫn dáng người gầy, mũ caskette nâu như năm nào, gọng kính trên mũi
thanh, ánh mắt thân thiện như chưa bao giờ có một khoảng trống vắng trong tình
bạn. Chúng tôi kể cho nhau nghe những điều đã làm đã học trong mười mấy năm
không gặp.
Tuy xa nhau rất lâu, nhưng hình như lúc nào Sơn cũng có mặt
không những chỉ cho riêng tôi mà cho thế hệ chúng tôi, ở những nơi xa xôi nhất
như cái thành phố Âu châu mà tôi đang ở. Nhạc tình, nhạc về chiến tranh và hòa
bình của Sơn trong những năm trước 1977 đã nở rộ và âm vang đến cộng đồng người
Việt khắp năm châu. Ở nơi quê người chúng tôi đã hát nhạc của Sơn như nỗi ưu tư
của mình về số phận của đất nước và con người Việt Nam, về nỗi khổ chiến tranh,
về khát vọng hoà bình.
Khác với những ca khúc khích động xuống đường thời ấy như
"dậy mà đi', "cỏ cú", ca khúc về cuộc chiến của Sơn thường gây ý
thức, đặt vấn đề hay trình bày vấn đề, hoàn cảnh, số phận để mỗi một người
chúng ta lấy quyết định mà hành động. Và khi đã lấy quyết định rồi thì tự mình
gánh lấy trách nhiệm của mình, chứ không thể đổ tội cho bài ca. Bởi thế tôi
nghĩ rằng những trách cứ về Sơn, buộc tội Sơn có hơi vội vàng do sự ngộ nhận bản
chất thật sự của những ca khúc TCS mà có lẽ trong một dịp khác phải được phân
tích và đánh giá lại một cách trung thực.
Trở lại 1977. Cả một công trình sáng tác nhạc mười mấy năm
đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê bình, Sơn đã tâm sự với tôi nỗi
khó khăn cho một người nghệ sĩ trong hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đang được
thực hành trong tính cách tuyệt đối, khai trừ mọi ý kiến khác biệt. Đã kể cho
tôi nghe những buổi "đi thực tế", những lần phải viết bài tự phê bình
về tác phẩm của mình, và Sơn bảo, họ không đồng ý với mình nhưng họ bảo mình viết
rất hay. (Không biết những tài liệu ấy ngày nay có còn không?) Tôi đã ngạc
nhiên trước những nhận xét sắc bén của Sơn, mà hồi trước vì nghe HPNTường thao
thao, tôi cứ đinh ninh là Sơn đơn giản.
Sơn đã chạm mặt với hai vấn đề: ý thức con người trong Xã Hội
Chủ Nghĩa và lý thuyết Mác-xít. Vấn nạn thứ nhất làm cho một người nghệ sĩ chân
chính phải kinh hoảng là sự không thành thực với chính mình - thành thật với
chính mình là điều kiện tiên quyết cho sự đạt đạo trong sáng tác nghệ thuật.
Trong hai năm trường Sơn đã chạm mặt với một hiện tượng mà Sơn gọi là nhị trùng
bản ngã - danh từ lần đầu nghe ở Sơn, bên ngoài nói một đằng mà bên trong nghĩ
khác, mà cả hai, bên trong và bên ngoài đều được chủ nhân của chúng tưởng là
đúng một cách giáo điều như nhau, chứ không phải một mặt đúng thì mặt kia phải
sai, không, giáo điều là sự tin tưởng cả hai thứ sai đều đúng!
Vấn nạn thứ hai là sự tò mò siêu hình cố hữu, Sơn hỏi tôi ở
Âu châu đã có triết gia nào dùng lý luận để bác bỏ lý thuyết Mác-xít một cách
toàn diện, tương tự như Marx đã phê bình Hegel. Câu hỏi thắc mắc triết học này
đã biểu lộ nỗi lo âu trí thức của một người nghệ sĩ thức tỉnh. Không băn khoăn
lo âu sao được khi ở đâu cũng bị vây quanh bởi những bích chương giáo điều quá
vĩ đại và hằng ngày phải điểm tâm bằng những buổi phát thanh ca ngợi chủ nghĩa
như kinh nhật tụng và những buổi học tập lý thuyết Mác-Lê loại trừ mọi phê
phán? Lo âu cho sức sáng tạo của mình bị tắt nghẽn khi phải đánh đổi sự yên tâm
trí thức về chân lý bằng quyết đoán giáo điều nông cạn và hời hợt.
Một lần khác trong một cuộc đi xem triển lãm tranh tại Huế,
Sơn chỉ cho tôi một bức tranh hiện thực được giải nhất, vẽ cảnh công nhân cùng
với mọi tầng lớp nhân dân đang lao động, người nào cũng vai u thịt bắp mặt mày
hồng hào, em bé thì bụ bẫm. Nỗi khổ của nghệ sĩ miền Nam nằm ở nơi "người
người hồng hào, em bé bụ bẫm" ấy! Vì nếu vẽ hiện thực thực sự thì chỉ tìm
thấy thực tế "đói dơ xương" đầy rẫy. Phải sống trong một ảo tưởng lạc
quan nào đó mới có thể vẽ hay hát hiện thực "mơ mộng ngây thơ" trong
hoàn cảnh Việt Nam thời ấy. Cho nên không vẽ được, không sáng tác được. Cho nên
khổ!
Không có bài hát nào của Sơn trong quá khứ được ban giam khảo
văn học nghệ thuật thời ấy cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến.
Sáng tác theo chiều hướng qui định đã như một cực hình, mà
không sáng tác - lẽ sống của người nghệ sĩ, thì như cây giữa mùa xuân rụng lá.
Trong một hoàn cảnh như thế Sơn đã chọn lựa sáng tác và bắt đầu lượm từng chiếc
lá xanh vừa rụng xuống chắp lại lên cành với bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm
Vui.
Trong đêm họp mặt bạn bè cũ nhân cuộc trở về Huế của tôi (hôm
ấy có mặt bộ ba của thời trước - Sơn, HPNTường, Đinh Cường và những bạn cũ,
cùng một vài khách mới, Sơn đã hát cho chúng tôi nghe ngoài những bài hát cũ,
bài hát vừa mới sáng tác nói trên. Về âm điệu và lời ca, thoạt nghe, thì cảm thấy
bài hát thật là bỡ ngỡ nếu được nhìn trong toàn thể ca khúc TCS.
Đến 1977 ca khúc TCS đã lớn mạnh và đạt đến trình độ tinh luyện,
xuất thần về âm giai cũng như về ý nhạc, cho nên khi nghe Mỗi Ngày Tôi Chọn Một
Niềm Vui tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ
trong sự nghiệp ca nhạc của mình, như "kìa đàn vịt ngoi dưới ao hồ"
hát hồi lớp Năm, đang phải quên tình sầu, tình nhớ, mưa hồng, cõi tạm để hiện
thực trong những niềm vui không có thực.
Và không những chỉ Sơn, tất cả những nghệ sĩ miền Nam đều đã phải
trải qua cay đắng ấy, trong khi họ gần nửa đời người sáng tác, họ phải bắt đầu
lại từ đầu với một cảm giác đang bị cặp mắt của ban kiểm duyệt văn hoá quan sát
ở sau lưng.
Ai nói Sơn ca ngợi niềm vui (trong lúc mọi người đang buồn
đang đói) trong bài hát này? Người ấy đã nghe quá vội, chỉ nghe chữ
"vui" mà không nghe chữ "chọn" đi trước. Ai vui thì nói tôi
vui như bài "vui ca lên nào anh em ơi" còn một người đang ngồi
"chọn" niềm vui thì người ấy chưa vui, bởi vì trong lúc chọn,
"cái vui" còn là một đối tượng bên ngoài chứ chưa phải là niềm vui
bên trong, cái vui nghẹn ngào, mới chỉ là một nửa, mới chỉ là "vui gượng kẻo
mà" đó thôi. Âm hưởng của chữ "vui" sau chữ "chọn"
nghe như có vết lăn của giọt nước mắt không nức nở của nàng Kiều!
Trong hoàn cảnh bấy giờ có người bảo không thể tìm ra một niềm
vui nào cả và trách Sơn tại sao có thể xa thực tế, đi nói chuyện vui trong lúc
cả nước khổ, ngược lại đài phát thanh Huế ngày nào cũng kể ra hàng vạn tin vui,
và người ta trách Sơn sao chỉ chọn một niềm vui, và chọn một con đường để đi,
trong lúc vui đã có và đường đã sẵn?
Trả lời chất vấn thứ hai, Sơn hát "tôi chọn một niềm
vui" ấy là thái độ tích cực đó chứ, tích cực nhưng không giáo điều vì sự
chọn lựa là của tôi và như thế tôi trung thành với tôi, trả lời chất vấn thứ nhất,
Sơn cho thấy sự bất bình thường của việc đi chọn một niềm vui như đi lựa một
chiếc áo chưa mặc, như đi mua vé xem hát mà chưa đi. Trong Mỗi Ngày Tôi Chọn Một
Niềm Vui vẫn có chữ vui, nhưng là nỗi vui được chọn lựa trong cảnh ngộ
"dùi mài một thân" của người nghệ sĩ phải tìm một niềm vui để sống,
phải chọn một con đường để đi giữa "gió trúc mưa mai", chọn và tìm
cho được mỗi ngày một niềm vui thật sự giữa những niềm vui nhị trùng bản ngã
không phải là dễ.
Và niềm vui mà Sơn kể ra lại không dính líu chi với những niềm
vui loan ra của các đài phát thanh của cả nước thời bấy giờ cả, mà là những niềm
vui tìm được trong cảnh thức Huế đã ghi đậm một thời: những bông hoa, những nụ
cười, "tôi chọn gió trời mời em giữ lấy", chọn tiếng ru con để chờ nắng
đầy, chờ cơn mưa tới và "nhìn gió quê hương ngồi nghĩ đời mình".
Tôi nhớ nàng Kiều trong "Nỗi lòng đòi đoạn xa gần, chẳng
vò mà rối chẳng dần mà đau" đã nhớ về quê cũ với những kỷ niệm đầm ấm khó
quên như một niềm vui an ủi cho hiện tại và cảm được tâm trạng của Sơn trong những
năm sau 1975 một phần nào: Chọn ở lại trên mảnh đất quê hương như là một nhu cầu
tất yếu của người nghệ sĩ - có con ve nào hát được tiếng hát trung thực của nó
khi bay khỏi vùng đất mà nó vừa thoát xác? - Chọn cho được một con đường riêng
cho mình để sáng tác mà không phản bội với chính mình. Chỉ với những niềm vui
trong "giấc hương quan" mà đó là "gió quê hương" của tâm thức
Huế, tác giả của Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui khi "nghĩ lại đời
mình" đã tạo cho cuộc đời mới của mình một mảnh đất sáng tạo dù cho hạn hẹp,
ở đó anh có thể chọn một niềm vui như một thứ tự do dù cho chỉ là khoảnh khắc
phù du như gió, như mưa, như nắng nhưng lại trung thực với con tim, bởi lẽ
"đất nước đang cần một trái tim" trung thực như thế.
Ngày rời Huế lúc chia tay Sơn đã đem đến tặng ba bài hát viết
tay trên trang giấy học trò - hồi ấy giấy viết tốt hầu như không có, bài hát
nói trên, và hai bài Con Chim Nó Đậu Cành Tre, Em Đi Qua Chuyến Đò hai sáng tác
mới phối hợp điệu dân ca và nhạc soul mà Sơn rất đắc ý. Hành lý mang theo hôm ấy
là tình bạn hữu và một nỗi xao xuyến lo âu cho người ở lại. Ở nơi xa mỗi khi
nghe ai hát những bài hát ấy tôi lại thấy xót xa với niềm vui như một giọt nước
mắt khô không chảy ấy.
Trong những năm kế tiếp, sau một khoảng thời gian bặt tiếng,
nhạc của Sơn như một luồng nước ngầm chảy đến miền Bắc và chinh phục mọi tầng lớp
thính giả, mặc dù bị cấm phổ biến, trong những chuyến xe đò từ Nam ra Huế, ra Bắc,
du khách bỗng nghe ấm lòng khi nghe Tình Nhớ, Quỳnh Hương như cuộc trùng phùng
bằng hữu bất ngờ, thấp thoáng, quấn quýt bên tai.
Tiếng hát TCS đã trở thành tiếng hát của mọi người. (Sự thành
công của Sơn sau 1977 là việc nghiên cứu trong tương lai.) Sơn thường bảo
"đời đã đãi ngộ" Sơn đó, tôi thì nghĩ, không chỉ do thế, chính trái
tim chân thật đầy đạo vị của Sơn đã gặp gỡ trái tim của mọi người dù Bắc hay
Nam, hữu hay tả, đó là nguồn suối thành công của Sơn.
Ngoảnh mặt lại nhìn thì đến bây giờ chúng tôi chỉ có Tiếng
Hát Trịnh Công Sơn như tiếng của cõi lòng thế hệ 40 - 60.
Vĩnh Biệt
Ngày đưa đám Sơn, anh em ở Huế, một số vào Sài-Gòn, một số
người ở lại Huế, trong đó có tôi. Nghe báo tin ra hàng ngày là đám tang sẽ rất
lớn, người ái mộ đem hoa đến không kể xiết, bỗng chùn chân không muốn đi.
Ở lại Huế, hội văn nghệ tổ chức lễ truy điệu, bạn hữu, người
ái mộ đến rất đông, nhưng cũng có người không đến. Hỏi tại sao. Trả lời, tui
không tới, không đi mô hết, tui đã từng thao thức nhiều đêm với hắn ở trên
chùa, thời nhỏ đã từng lăn lóc với hắn trong vườn dâu trong bụi sắn, chừ tui ở
nhà tui khóc với hắn, tui nói với hắn là đủ rồi - một chiêu bằng hữu kiểu Huế kỳ
quái! không phải khóc cho Sơn mà với Sơn, không phải điếu văn cho Sơn mà nói với
Sơn trong nỗi "bạn bè rời xa chăn chiếu". Ô hay, sao nỗi cô liêu bỗng
vô tận thế này?
Ngày đưa đám Sơn, tôi đã đi lại những con đường ở Huế, đường
qua Trường Tiền đường lên Bến Ngự, vòng xuống Ngự Viên, những con đường chúng
tôi đã đi thời thanh xuân, bỗng vấp chân trên đường, hòn đá lăn rơi khô khan
như tiếng đất rơi tiễn biệt trên một quan tài, những viên sỏi đá! một thời tuổi
xuân! đã muốn nhìn vô tri đồng nghĩa với chữ TÂM, với chữ THƯƠNG!
Sơn ơi, nơi cõi "đêm chưa qua mà ngày chưa tới"
trong kinh Bát Nhã có phải "ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau"!
GHI CHÚ
(1) Sisyphus: nhân vật trong huyền thoại Hy Lạp, con của
Aiolos và nữ hoàng Korinth, nổi tiếng là tinh ranh quỉ quyệt đã dám bắt thần chết
trói lại để cho con người khỏi phải chết, sau đó bị trừng phạt vì tội ấy suốt đời
phải lăn một tảng đá lên núi, nhưng khi đến nơi thì tảng đá lại rớt xuống, và
Sisyphus lại phải bắt đầu lại công việc lăn đá lên núi.
(2) và (4) Công án Triệu Châu: "Một hôm trong tự viện của
Hoà Thượng Nam Tuyền, tăng chúng ở đông và tây đường tranh nhau một con mèo.
Nam Tuyền cầm con mèo giơ lên nói: "Đại chúng nếu có ai nói được (đắc đạo)
thì cứu mạng cho mèo, bằng nói không được (đạo bất đắc) thì ta sẽ chém mèo vậy!"
Chúng chẳng ai nói được, Nam Tuyền bèn chém mèo. Chiều đến, Triệu Châu về, Nam
Tuyền đem chuyện kể lại cho Triệu Châu. Triệu Châu bèn cởi giầy đội lên đầu rồi
đi ra. Nam Tuyền nói: "Nếu như có ông ở đó, hẳn đã cứu được mạng cho mèo rồi."
(3) Công án Thiền nổi tiếng của Hakuin - Hãy Lắng Nghe Tiếng
Vổ của Một Bàn Tay: "Khi ta vổ hai tay vào nhau, ta nghe tiếng vổ tay hay
là nghe tiếng vổ của một bàn tay?"
Thái Kim Lan



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét