Hồ Thị Ngọc Nữ
Nghiên cứu hình tượng nỗi buồn trong Lửa
thiêng của Huy Cận sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc những tư tưởng, tình
cảm, quan niệm…của nhà thơ. Qua Lửa thiêng, Huy Cận đã nói lên tâm
trạng chung của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Đó là tâm trạng buồn bã, thất vọng
và bất lực trước thực tại.
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù. Là hình thái ý thức xã hội, văn học gắn liền với cuộc sống. Với tính chất thẩm mỹ đặc thù, văn học nhận thức, phản ánh, lý giải, biểu hiện cuộc sống, con người bằng hình tượng. Hình tượng không chỉ là phương tiện phản ánh cuộc sống mà còn là phương tiện giao tiếp của nhà văn.
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù. Là hình thái ý thức xã hội, văn học gắn liền với cuộc sống. Với tính chất thẩm mỹ đặc thù, văn học nhận thức, phản ánh, lý giải, biểu hiện cuộc sống, con người bằng hình tượng. Hình tượng không chỉ là phương tiện phản ánh cuộc sống mà còn là phương tiện giao tiếp của nhà văn.
Học
tập, nghiên cứu, giảng dạy văn học không thể không tập trung vào hình tựợng.
Bởi vì, khám phá hình tượng mới thấu hiểu được nội dung, ý nghĩa và cái đẹp của
tác phẩm văn học. Đồng thời, hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh mà còn
biểu hiện tiếng nói của tình cảm- cảm xúc con người, là sự bộc lộ, giãi bày và
gởi gắm tâm tư. Ở đó còn thể hiện cách nhìn, cách suy nghĩ của người nghệ sĩ.
Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 là một hiện tượng văn học vô cùng đa dạng và phong phú. Thơ mới mang màu sắc của cái tôi cá nhân độc đáo thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân. Do vậy, cái tôi của các nhà thơ mới mang nhiều màu sắc khác nhau, muôn màu muôn vẻ, hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp. Song, ở đâu cũng phảng phất nỗi buồn và cô đơn, không lối thoát, không thấy tương lai, chỉ thấy trời đất tối tăm mù mịt, “cho nên Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất” [8;564].
Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 là một hiện tượng văn học vô cùng đa dạng và phong phú. Thơ mới mang màu sắc của cái tôi cá nhân độc đáo thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân. Do vậy, cái tôi của các nhà thơ mới mang nhiều màu sắc khác nhau, muôn màu muôn vẻ, hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp. Song, ở đâu cũng phảng phất nỗi buồn và cô đơn, không lối thoát, không thấy tương lai, chỉ thấy trời đất tối tăm mù mịt, “cho nên Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất” [8;564].
Cái
buồn và cô đơn thấm đẫm trên từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của các nhà
Thơ mới. Hầu như thi nhân nào cũng có đề cập đến sự cô độc, cái buồn man mác,
cái đau đời. Song Huy Cận là nhà thơ thành công nhất khi thể hiện cái
tôi sầu thương bi thiết. Huy Cận đã nâng nỗi đau đời của
mình và của đất nước lên thành hình tượng vừa lãng mạn vừa điển hình. Đó là hình
tượng nỗi buồn. Đây cũng chính là đề tài mà chúng tôi yêu thích và sẽ đi
sâu khai thác.
Huy Cận là một tác gia lớn có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 nói riêng, cho nền văn học ViệtNam nói chung. Tác phẩm của Huy Cận rất đa dạng về số lượng và đề tài. Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ là một chặng đường sáng tạo độc đáo không mệt mỏi. Huy Cận là một
Huy Cận là một tác gia lớn có nhiều đóng góp cho phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 nói riêng, cho nền văn học ViệtNam nói chung. Tác phẩm của Huy Cận rất đa dạng về số lượng và đề tài. Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ là một chặng đường sáng tạo độc đáo không mệt mỏi. Huy Cận là một
trong
những nhà thơ có nhiều tác phẩm được trích giảng trong nhà trường phổ thông
như:Đoàn thuyền đánh cá, Các vị La Hán chùa Tây Phương, Tràng giang….
Với
nhiều đóng góp quan trọng và có giá trị như thế chứng tỏ rằng Huy Cận là một
tên tuổi không thể thiếu trong nền văn học dân tộc. Do đó, việc tìm hiểu, khám
phá các tác phẩm của ông rất được nhiều người quan tâm. Chúng tôi nhận thấy,
nỗi buồn trong thơ Huy Cận được nhiều nhà phê bình- nghiên cứu văn học đề cập
đến. Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu riêng lẻ, chưa có một hệ thống thống
nhất và hoàn chỉnh. Thế nên, người viết muốn khám phá, nghiên cứu và đi sâu
phân tích hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêng của Huy
Cận để hiểu một cách có hệ thống một khía cạnh trong thơ Huy Cận. Mặt khác để
trân trọng sự đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà. Cuối cùng là để có một
kỹ năng, một ý thức trong việc khai thác hình tượng nghệ thuật trong việc giảng
dạy văn học sau này.
Thơ
Huy Cận đề cập và phản ánh nhiều vấn đề trong cuộc sống. Hơn 60 năm lao động
nghệ thuật, nhà thơ đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ với trên 20 tập
thơ và trở thành cây đại thụ của nền thi ca ViệtNamhiện đại. Mỗi tập thơ đều có
nét độc đáo riêng biệt, đề cập đến các vấn đề khác nhau tạo nên sự đa dạng và
phong phú trong phong cách sáng tác của ông .
Tuy
nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng đi sâu tìm hiểu và khám phá hình tượng nỗi buồn
trong thơ và để phát hiện ra những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật sáng tác
của Huy Cận là một đề tài rất thú vị.
Tác
phẩm Huy Cận để lại vô cùng phong phú cả về số lượng lẫn đề tài. Nhưng do
khả năng bản thân và việc cho phép của một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ
tập trung nghiên cứu hình tượng nỗi buồn và nghệ thuật xây dựng hình tượng nỗi
buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận. Vả lại đây cũng là tập thơ
tập trung nhất nỗi buồn của chủ thể trữ tình.
Những
vấn đề khác cũng như những tập thơ khác của Huy Cận cũng được chúng tôi tìm
hiểu xem là tư liệu quý báu, cần thiết để phục vụ cho đề tài
Nghiên
cứu hình tượng nỗi buồn trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận
để thấy được vì sao thi nhân nhìn đời buồn như vậy, nghệ thuật biểu hiện hình
tượng nỗi buồn đặc biệt như thế nào mà nhiều người đã quan tâm.
Đây
cũng là dịp để người viết áp dụng lí luận đã được trang bị ở trường Đại học vào
thực tiễn nghiên cứu. Từ đó, củng cố lí thuyết, khắc sâu kĩ năng khai thác hình
tượng. Đây là một việc làm quan trọng mang lại hiệu quả thiết thực cho việc
giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ dạy học của
một giáo viên tương lai
Khái quát về hình tượng, phương thức xây dựng hình tượng trong thơ, về phong
trào Thơ mới 1932-1945, về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ Huy Cận để làm cơ
sở lí luận cho việc nghiên cứu.
Tìm hiểu nguyên
nhân của nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận, những đặc sắc
của nhà thơ trong việc thể hiện nỗi buồn. Từ đó , thấy được phong cách riêng
rất độc đáo của thi nhân.
Rút ra kết luận và
nêu lên những đề xuất của người viết về việc mở ra hướng tiếp cận đề tài theo
những cấp độ mới của bậc học cao hơn.
Nghiên
cứu đề tài này một cách nghiêm túc, toàn diện, có hệ thống sẽ giúp người viết
có thêm những kiến thức mới, bổ ích về thơ Huy Cận. Qua đó, thấy được sự
đóng góp to lớn, tích cực của nhà thơ cho nền văn học nước nhà.
Qua
nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đề tài có các giá trị thực tiễn như sau:Cung cấp tài liệu
cho học sinh phổ thông tìm hiểu thêm về thơ Huy Cận.
Giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy sau này của bản thân. Đặc biệt giúp học sinh hiểu được cái hay , cái đẹp của hình tượng văn học .
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù, ra đời và phát triển trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn của con người. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của nền văn minh nhân loại, các loại hình nghệ thuật cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng. So với các loại hình nghệ thuật khác thì văn học chiếm một vị trí rất quan trọng. Bởi vì văn học sử dụng chất liệu để xây dựng hình tượng là ngôn từ, mà ngôn từ có một sức mạnh tiềm tàng rất lớn, có thể chứa đựng trong nó tất cả âm thanh, hình ảnh, đường nét, màu sắc…Có thể lấy lời khẳng địng của Belinxki để minh
Giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy sau này của bản thân. Đặc biệt giúp học sinh hiểu được cái hay , cái đẹp của hình tượng văn học .
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc thù, ra đời và phát triển trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn của con người. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của nền văn minh nhân loại, các loại hình nghệ thuật cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng. So với các loại hình nghệ thuật khác thì văn học chiếm một vị trí rất quan trọng. Bởi vì văn học sử dụng chất liệu để xây dựng hình tượng là ngôn từ, mà ngôn từ có một sức mạnh tiềm tàng rất lớn, có thể chứa đựng trong nó tất cả âm thanh, hình ảnh, đường nét, màu sắc…Có thể lấy lời khẳng địng của Belinxki để minh
chứng
cho điều này: “Thơ văn là loại hình nghệ thuật cao cấp nhất. Thơ văn thể
hiện trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa là bức
tranh, vừa là khái niệm. Do vậy thơ văn mang trong mình tất cả các yếu tố của
nghệ thuật khác, nó như sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại
hình nghệ thuật riêng biệt. Thơ văn chính là toàn bộ nghệ thuật.”[9;91].
Ý
kiến của Belinxki đã chỉ rõ ưu thế của văn học trong việc phản ánh cuộc sống.
Với chất liệu là ngôn từ, văn học đã xây dựng một hệ thống hình tượng có thể
phản ánh bất kì phương diện nào của thế giới khách quan. Đồng thời, qua hệ
thống hình tượng đa dạng và phong phú, văn học còn có chức năng nhận thức, biểu
hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn diện nhất.
Hình
tượng văn học mang tính phi vật thể. Do đó thiếu tính trực quan
nhưng bù lại hình tượng văn học có những ưu thế khác. Trước hết, do tác động
vào thế giới tinh thần nên hình tượng văn học kích thích sự liên tưởng, tưởng
tượng, tái hiện cuộc sống và con người đối với người đọc. Bên cạnh việc tái
hiện những hình tượng hữu hình, văn học còn tái hiện được những hình
tượng vô hình, những cái mỏng manh và mơ hồ nhất mà các loại hình nghệ
thụât khác không thực hiện được. Điều đó cho thấy rằng, nhờ có hình tượng mà
những trạng thái tình cảm rất trừu tượng của con người có được một hình
hài cụ thể. Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được những tư tưởng,
tình cảm của tác giả qua các hình tượng vô hình đó.
VII.2. Hình tượng là vấn đề
phổ biến trong văn học và được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Ở phương Tây,
hình tượng được xem là sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng và cái chung,
giữa cái cá biệt- cảm tính với cái trừu tượng- khái quát. Hêghen, một trong
những nhà nghiên cứu hình tượng khá toàn diện cho rằng: “Nội dung của nghệ
thuật là tư tưởng, còn hình thức của nó là sự thể hiện một cách hình tượng cảm
tính” [21;17].Tiếp nối quan niệm của Hêghen về hình tượng trong văn học còn
có ý kiến của các nhà nghiên cứu văn học như: Sussanne Langer, A. Enstein,
Belinxki, Timophêep, Pospelov v.v…
Ở
phương Đông, hình tượng cũng được quan tâm từ rất sớm. Về vấn đề này, Khổng Tử
viết: “Viết không nói hết lời, lời không nói hết ý, vậy thì cái ý của thánh
nhân không thấy hết được sao?”. Và Không Tử thấy rằng: “Thánh nhân làm
ra tượng để nói hết ý”. Nghĩa là, người xưa đã biết dùng
hình ảnh,
biểu
tượng để diễn đạt những điều mà lời nói không chuyển tải hết được. Ngoài Khổng
Tử, còn có các quan niệm về hình tượng của nhà lí luận- phê bình văn học Lưu
Hiệp. Ông cho rằng, hình tượng là hình ảnh của thế giới khách quan được nghệ sĩ
quan sát, sau đó biểu hiện và sáng tạo bằng những cảm nhận tinh tế của mình. “Tình
cảm vì sự vật mà thay đổi, lời vì tình cảm mà phát ra…Trong cái cảnh bao la
muôn vàn hình tượng, nhà thơ trầm ngâm nghe và ngắm, tả lại cái khí chất, vẻ
lại cái dung mạo của nó. Nhà thơ đã theo sự vật mà để tâm trí, lại còn thêm sắc
thái, góp âm thanh, tâm trạng cũng vì thế mà bồi hồi.” [14;54]. Điều
đó có nghĩa là sự thay đổi của thế giới khách quan tác động đến thế giới tinh
thần của con người. Và từ sự cảm nhận chủ quan tinh tế, người nghệ sĩ đã tạo ra
hình tượng từ thực tế cuộc sống. Điều đó cũng chứng minh rằng, hình tượng là sự
gắn bó mật thiết giữa hiện thực khách quan và tình cảm chủ quan.
Ở
Việt Nam, lí luận văn học hiện đại khẳng định hình tượng là “bức tranh sinh
động về cuộc sống vừa cụ thể- cảm tính vừa khái quát và mang ý giá trị thẩm mỹ” [18;298].
Các nhà nghiên cứu, lý luận văn học tiêu biểu như: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Hà
Minh Đức, Lê Ngọc Trà… đều rất quan tâm và đề cập nhiều đến những khía cạnh của
hình tượng.
Qua
nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng các ý kiến và quan điểm của
các nhà lí luận văn học phương Tây, phương Đông và ở Việt Nam đều có điểm chung
khi cho rằng hình tượng văn học là sự thống nhất biện chứng giữa cái cụ thể-
cảm tính và cái chung- khái quát, giữa chủ quan và khách quan.
Trong nền văn học
ViệtNam hiện đại, Huy Cận có một vai trò, vị trí rất quan trọng. Hơn nửa thế kỉ
cầm bút, Huy Cận đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Trong hành trình
nghệ thuật của mình, Huy Cận đã không ngừng phấn đấu sáng tạo và cho ra đời
nhiều tác phẩm văn chương có giá trị, đạt đỉnh cao của thành tựu thơ ca
ViệtNam.
Các
nhà thơ, các nhà nghiên cứu đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả
hai chặng đường, trước và sau Cách mạng. Nhiều ý kiến đã lý giải được quá trình
vận động cảm hứng sáng tạo của Huy Cận qua các tập thơ, phác thảo được những
đặc điểm cơ bản trong phong cách thơ của Huy Cận như: tình yêu sự sống, nỗi
khắc khoải không gian, nỗi buồn thế hệ, giọng điệu trầm lắng, sâu
sắc…
Thơ
Huy Cận là một mảng đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
phê bình và nhiều thế hệ độc giả . Tính cho đến nay, đã
có hơn 80 công trình
nghiên cứu- phê bình lớn ở trong nước và ngoài nước. Đáng chú ý nhất là những
công trình nghiên cứu mang tính tổng kết của Trần Khánh Thành, Trinh Đường, Hà
Minh Đức, Trần Đình Việt, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Trần Mạnh Hảo, Phan Hoàng,
Trần Đình Sử, Nguyễn Hoàng Khung, Nguyễn Xuân Nam, Vũ Quần Phương, v.v…
Lửa
thiêng tuy
là tập thơ đầu tay của Huy Cận nhưng đã đưa tên tuổi nhà thơ lên vị trí hàng
đầu trên thi đàn Việt Nam. Đây là tập thơ được nhiều nhà phê bình và các độc
giả yêu văn chương quan tâm nhất. Đây cũng chính là tập thơ được coi là một
trong những tập thơ “toàn bích nhất của giai đoạn 1932-1945” [25;5].
Lửa
thiêng thành
công vẻ vang vì tập thơ đã nêu bật được hồn thơ của nhà thơ, cái
buồn chung của cả một thế hệ và nỗi đau của những người dân mất nước nên đã
đánh động được sự đồng tình, ủng hộ của tất cả mọi người, thuyết phục cả những
độc giả khó tính nhất.
Nghiên
cứu tập thơ Lửa thiêng, các nhà phê bình- nghiên cứu văn học đã tìm
hiểu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau. Trong lời giới thiệu về tập thơ, nhà
thơ Xuân Diệu đã nhận xét về hồn thơ Huy Cận- một hồn thơ mang linh hồn trời
đất và nặng tình đời, tình người, tình yêu sự sống: “Linh hồn Huy Cận là một
linh hồn trời đất, nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng, cái cảm giác
trội nhất của ta là một cảm giác không gian, ta nghe xa vắng quanh mình, ta
đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời
vợi dàn ra cho đến hư vô. Huy Cận quá cảm nghe cái mênh mông, thì giọng thơ của
người cũng lây cái sầu vũ trụ” [5,27].
Trong Thi
nhân Việt Nam, Hoài Thanh- Hoài Chân đã khẳng định vị trí quan trọng của
Huy Cận khi cho rằng tác giả Lửa thiêng “đã gọi dậy hồn
buồn của Đông Á, người đã khơi dậy cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn
ngấm ngầm trong cõi đất này” [24;137]. Trong tác phẩm Nhà văn hiện
đại, Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra vẻ đẹp trong sáng, thanh tao, cổ kính của Đẹp
xưa,Tràng giang, Thu rừng… “Dù nhìn nhận ở những góc
độ khác nhau nhưng các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đương thời đều đánh giá
cao đóng góp của Huy Cận. Và Huy Cận đã có một vị trí cao, vững chắc trong
phong trào Thơ mới” [25;14].
Các
nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoàng Khung trong các giáo trình
đại học đều chỉ ra lòng yêu đời, yêu và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Hồn thơ Huy Cận trong trẻo và đầy sức sống. Từ năm 1985 đến nay, Lửa
thiêng càng được nhiều nhà phê bình- nghiên cứu văn học quan tâm hơn
và được khai thác từ nhiều phương diện khác nhau. Trong chuyên luận Thơ
mới, những bước thăng trầm, Lê Đình Kỵ đặc biệt nhấn mạnh“nguồn mạch
truyền thống chảy dào dạt trong những vần thơ Lửa thiêng”
[25;15]. Còn nhà thơ Trinh Đường trong tiểu luận Huy Cận và Lửa thiêng đã
cảm nhận sâu sắc nỗi buồn thương của Huy Cận về quê hương, đất nước, về những
mảnh đời đau khổ của kiếp người nô lệ, về nỗi xót xa, thương cảm của một
chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu (Ê chề). Song song
đó là lòng yêu đời thiết tha của thi nhân. Đỗ Lai Thúy trong tiểu luận Huy
Cận và sự khắc khoải không gian đã nghiên cứu rất sâu những đặc điểm
cơ bản của không gian nghệ thuật Lửa thiêng. Đó là một không gian “hóa
thân của thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thưở xưa” [25;330]. Ở đó
có sự tương giao giữa con người, thiên nhiên và vũ trụ bao la.
Trong
tập tiêu luận Một thời đại trong thi ca, Hà Minh Đức đã có những
kiến giải mới mẻ và phân tích sâu sắc về Ngọn Lửa thiêng trong
đời và trong thơ . Ông cho rằng thế giới tâm linh kết thành ngọn Lửa
thiêng trong thơ Huy Cận. Đó là “thế giới tâm linh soi rọi như ánh
sáng, như niềm tin vào lương tri của con người và được tác giả xem như phần hồn”
[25;52]. Nhờ có nguồn ánh sáng ấy mà Huy Cận nhìn thấy được “bóng dáng
xưa của ngọn nguồn dân tộc, cảm nhận được nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân
gian, và nhận ra bản thể của con người trong sự sống của thiên nhiên” [25;15].
Đặc
biệt, Trần Khánh Thành trong chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận đã
nghiên cứu sâu về thơ Huy Cận ở nhiều phương diện, nhiều khía cạnh như: Cái
tôi trữ tình với nhiều đối cực, Quan niệm nghệ thuật, Thời
gian và không gian nghệ thuật, Phương thức thể hiện…
Những
công trình nghiên cứu của các tác giả đều rất đáng trân trọng và rất bổ ích đối
với những ai quan tâm đến thơ Huy Cận, đặc biệt là giúp ích cho người viết
trong suốt quá trình tìm hiểu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của
Huy Cận.
Tuy
nhiên, dù nghiên cứu ở góc độ nào thì các nhà phê bình và nghiên cứu văn học
đều thống nhất với nhau khi cho rằng:
“Huy
Cận bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu. Với tập thơ
đầu tay Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới những
vần
thơ buồn bã, ảo não bậc nhất. Buồn bã, cô đơn là tâm trạng chung của các nhà
thơ mới nhưng không có nhà thơ nào buồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm như Huy Cận” [25;15].
Khi
tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu văn học đặc
biệt quan tâm đến tâm trạng cô đơn, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời
của Huy Cận. Đó chính cảm xúc chủ đạo của thi nhân. Đồng thời, thơ của tác giả Lửa
thiêng có một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc. Đó là cơ sở quý giá
để khoá luận tiếp tục làm sáng rõ thêm nguyên nhân của nỗi buồn và nghệ thuật
thể hiện nỗi buồn đó đặc sắc như thế nào mà bạn đọc rất quan tâm và yêu thích.
Khái quát
về hình tượng
Hình
tượng là phương thức biểu hiện chủ yếu của văn học. Nói đến văn học là nói đến
hình tượng. Hình tượng chính là phương tiện để nhà nghệ sĩ miêu tả con người và
thế giới khách quan một cách sinh động, toàn diện, có hệ thống.
Vai
trò của hình tượng luôn được các nhà lý luận- phê bình nghiên cứu văn học nhấn
mạnh. Heghen viết: “Sứ mệnh của nghệ thuật là ở chỗ dùng hình thức hình
tượng nghệ thuật cảm tính dể làm hiện lên tính chân thực”. Còn Macxim Gorki
thì cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật không phải là kể ra mà là dùng hình tượng
và bức tranh để miêu tả hiện thực”. Do vậy, hình tượng là phương thức tư
duy đặc thù của nghệ thuật để phản ánh thực tại khách quan.
Theo Từ
điển văn học thì : “Hình tượng hay hình tượng nghệ thuật là
bức tranh cuộc sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm
mỹ” [19;298]. Một tác phẩm có tính hình tượng khi tác phẩm đó đem đến cho
người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống. Đồng thời phải tạo nên
những cảm xúc mãnh liệt khi tiếp xúc với tác phẩm qua ngôn ngữ. Bức tranh ấy
vừa phản ánh cuộc sống của một vài cá thể vừa phản ánh cuộc sống của nhiều
người trong xã hội. Tình cảm ấy vừa là tình cảm của chủ thể trữ tình vừa là
tình cảm của một tầng lớp, một dân tộc hay toàn nhân loại. Lòng yêu hoà bình và
căm thù chiến tranh không chỉ của riêng Andrey hay Pier trong tiểu thuyết Chiến
tranh và hoà bình của L.Tonxtoi mà là của cả cộng đồng người trên toàn
thế giới.
Hình
tượng phải có tính chất vừa quen vừa lạ, tức là có sự thống nhất
giữa khách quan và chủ quan trong nghệ thuật xây dựng hình tượng. Nhờ có sự
thống nhất biện chứng giữa tính chung của hiện thực khách quan và tính
riêng của cảm xúc người nghệ sĩ mà hình tượng phản ánh cuộc sống một cách chân
thực, đồng thời mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc. Có thể thấy, qua nhân vật Thuý
Kiều, hình tượng người phụ nữ được phản ánh một
cách trọn vẹn và
chân
thật. Nàng mang tất cả những nét đẹp của người phụ nữ về dung mạo lẫn
tâm
hồn. Nàng giàu đức hy sinh và giữ vẹn lòng chung thuỷ. Dù bị vùi dập giữa muôn
ngàn lớp sóng cuộc đời, nàng vẫn giữ lòng mình trong sạch. Nàng ý thức được về
bản thân, về thế giới và quyết không đầu hàng số phận. Đó là những nét tính
cách rất thật cuả người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đồng thời, Nguyễn Du
cũng xây dựng nàng Kiều thành một hình mẫu trọn vẹn, tinh khiết và lý tưởng.
Nàng trở thành một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao. Nàng đã gieo
được những hạt mầm tình cảm tốt đẹp trong lòng người đọc.
Đó
chính là cách phản ánh rất riêng và độc đáo của tác phẩm văn học. “Nghệ
thuật xây dựng các hình tượng là để phản ánh và lí giải đời sống theo cách
riêng cuả nó” [20;64]. Với cách đó, hình tượng chẳng những nói hết ý mà còn
có khả năng tác động trực tiếp đến tình cảm và thế giới tinh thần của con
người.
Do
có sự thống nhất giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan nên hình tượng có
thể phản ánh thực tại khách quan một cách chân thực, đồng thời cũng mang đậm
nét phong cách, tài năng và bản lĩnh của chủ thể sáng tạo. Vì vậy, hình tượng
vừa có giá trị hiện thực vừa là “thành quả của tư duy sáng tạo và tưởng
tượng của người nghệ sĩ” (Pospelov). Qua hình tượng, chúng
ta có thể hiểu được những suy tư, trăn trở, những tư tưởng, tình cảm của tác
giả.
II.
Đặc trưng của hình tượng
Hình
tượng nghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm sống và những mối quan hệ
ràng rịt của con người. Cho nên hình tượng nghệ thuật vừa có sự thống nhất giữa
cái cá biệt, cụ thể- cảm tính và cái chung, khái quát vừa thể hiện ở chỉnh thể
các quan hệ xã hội- thẩm mỹ.
Trước
hết, đó là quan hệ nghệ thuật với thế giới khách quan mà nó phản ánh. Tiếp theo
là quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và người tiếp nhận, tức là giữa tác giả với
người đọc. Sau nữa là quan hệ giữa hình tượng nghệ thuật với chất liệu làm nên
nó v.v…
Đặc
trưng của một ngành nghệ thuật nói chung và hình tượng của nó nói riêng chịu sự
chi phối của chất liệu tổ chức tác phẩm. Với chất liệu ngôn từ, hình tượng văn
học có những đặc trưng riêng.
Tính hình tượng- gián tiếp
Chất liệu của hội hoạ là màu sắc, của âm nhạc là âm thanh, làn điệu, của vũ đạo là hình thể, động tác, của điêu khắc là đường nét, hình khối… Nói chung, các loại hình nghệ thuật trên đều có chất liệu là vật chất, vật thể nên chúng đều có tính hình tượng- trực tiếp, tức là người tiếp nhận có thể trực tiếp nghe hoặc nhìn thấy một cách dễ dàng.
Tính hình tượng- gián tiếp
Chất liệu của hội hoạ là màu sắc, của âm nhạc là âm thanh, làn điệu, của vũ đạo là hình thể, động tác, của điêu khắc là đường nét, hình khối… Nói chung, các loại hình nghệ thuật trên đều có chất liệu là vật chất, vật thể nên chúng đều có tính hình tượng- trực tiếp, tức là người tiếp nhận có thể trực tiếp nghe hoặc nhìn thấy một cách dễ dàng.
Văn
học cũng là một loại hình nghệ thuật nhưng hình tượng văn học đặc biệt không
giống như các loại hình nghệ thuật khác. Hình tượng văn học là hình tượng- trực
tiếp bởi chất liệu tổ chức tác phẩm là ngôn từ, mà ngôn từ chỉ là kí hiệu của
vật chất chứ không phải là vật chất nên ta không thể cảm quan một cách trực
tiếp. Đây là hình ảnh cô gái thanh xuân, xinh đẹp, tràn đầy sức sống trong thơ
Huy Cận:
Ngực
trắng dòn như một trái rừng;
Mắt
thì bằng rượu, tóc bằng hương,
Miệng
cười bừng nở hàm răng lựu,
Sáng
cả rừng xanh mấy dặm trường.
(Hồn
xuân)
Rõ
ràng ta có thể tưởng tượng ra các hình tượng chứ không thể thấy ngực,
mắt, miệng…cũng như mùi hương của cô gái.
Hình
tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng bù lại nó có những khả năng
đặc biệt khác. Khả năng đặc biệt đó là do sức mạnh của ngôn ngữ mang lại. Ngôn
ngữ trong tác thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai nên sẽ tác động vào trí não và ý
thức con người, giúp họ nghe thấy được hình tượng một cách gián tiếp qua sự
hình dung, tưởng tượng, kích thích quá trình hoạt động trí tuệ của họ.
Tính tư duy- trực tiếp
Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác) nên những tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm- cảm xúc của nhà văn hoặc nhân vật trong tác phẩm đều có thể bộc lộ một cách trực tiếp. Nói cách khác, do văn học lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên hình tượng của nó mang tính tư duy- trực tiếp. Chẳng hạn, đau buồn trước thực trạng tăm tối của xã hội, Huy Cận đã không kìm được tiếng lòng nức nở.
Tính tư duy- trực tiếp
Do ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy” (Mác) nên những tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm- cảm xúc của nhà văn hoặc nhân vật trong tác phẩm đều có thể bộc lộ một cách trực tiếp. Nói cách khác, do văn học lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên hình tượng của nó mang tính tư duy- trực tiếp. Chẳng hạn, đau buồn trước thực trạng tăm tối của xã hội, Huy Cận đã không kìm được tiếng lòng nức nở.
Than
ôi! trời đẹp nhưng trời buồn
Như
cảnh tươi màu rạp cải lương
Tôi
đội tang đen cùng mũ trắng,
Ra
đi không hẹn ở trên đường.
(Giấc ngủ chiều)
Trước
Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt
Trái
tim đau khô héo thuở trần gian.
Tôi
sẽ nói:
“Này
đây là nước mắt,
Ngọc
đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan”.
(Trình bày)
Các
loại hình nghệ thuật khác mang tính tư duy- gián tiếp. Khi xem một bức tranh
hay nghe một bài hát, ta có thể nghe thấy được hình tượng một cách dễ dàng
nhưng muốn biết những tư tưởng, tình cảm ẩn giấu đằng sau thì buộc người tiếp
nhận phải suy nghĩ và tư duy. Trái lại, khi đọc một tác phẩm văn chương, chúng
ta có thể biết được vô vàn số phận con người trong xã hội và họ suy nghĩ như thế
nào về cuộc đời, những suy tư, dằn vặt, những nỗi đau khổ, sự thất vọng, niềm
hạnh phúc…Vì thế, xét trên một bình diện nào đó thì hình tượng văn học “giàu
khuynh hướng tư tưởng hơn các loại hình nghệ thuật khác” [15;190].
Tính tuyến tính của hình tượng
Hình
tượng văn học được tái hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn trong thời gian, tức
là những hành động, sự kiện, suy nghĩ, ý định…của con người xuất hiện nối tiếp
nhau theo thời gian. “Văn học thuộc loại nghệ thuật thời gian, nghĩa là hình
tượng của nó mở dần trong thời gian, khác hẳn các loại hình nghệ thuật khác” . Lessing đã rất có lý khi đưa ra lập luận: “Các ký hiệu biểu hiện
cái này tiếp sau cái kia thì chỉ có thể chỉ ra các sự vật trong thực tế cũng
bộc lộ với ta trong tính liên tục của thời gian”. Lập luận của Lessing có
thể giải thích qua chất liệu xây dựng hình tượng. Bằng ngôn từ nghệ thuật, khi
đọc một tác phẩm văn học, ta có thể cảm nhận sự xuất hiện dần dần theo thời
gian của hình tượng đến khi trở thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất biểu
hiện một tư tưởng , một quan niệm nào đó của tác giả.
Hình
tượng Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao xuất hiện với nhân dáng là
một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Sau đó, lật qua từng trang viết,
hình tượng nhân vật này ngày càng được hoàn chỉnh, người đọc có thể hiểu một
cách sâu sắc về Chí Phèo ở nhiều khía cạnh: Một anh thanh niên hiền lành, chất
phác với mơ ước giản dị, trong sáng, có vợ sinh con và có cuộc sống
bình thường, hạnh phúc. Rồi anh bị hãm hại, vào tù và sau đó trở nên hung hăng,
tàn nhẫn mất hết tính người với chuỗi ngày tháng sống vất vưởng bên lề xã hội
loài người, với những mảnh chai chằng chịt trên mặt, với cuộc sống vô nghĩa
không cảm xúc, không tình yêu. Rồi Chí Phèo gặp Thị Nở và nảy sinh tình
yêu, Chí bắt đầu ý thức về bản thân và sự bất hạnh khi bị mọi người xa
lánh, Chí giết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời đầy đau khổ của mình…Tất cả các
chi tiết đều hiện lên tuần tự theo thời gian, tương hỗ nhau để khắc hoạ hoàn
chỉnh hình tượng Chí Phèo.
Nhờ
có chất liệu là ngôn từ nghệ thuật nên văn học đạt được tính vạn năng trong
việc phản ánh , tái hiện đời sống và xây dựng hình tượng. Tính vạn năng thể
hiện ở chỗ văn học có thể phản ánh bất kỳ phương diện nào, vấn đề nào trong đời
sống- xã hội. Văn học chẳng những phản ánh được những sự vật, hiện tượng trong
thế giới khách quan mà còn có thể nắm bắt tất cả những cái mơ hồ, vô hình chỉ
tồn tại trong tâm thức của con người. Điều này làm cho văn học không bị
giới hạn bởi không gian và thời gian khi miêu tả, thể hiện. Chính vì vậy mà có
thể nói rằng không ở đâu có thể có hình tượng phong phú như trong văn học.
Tính đa trị, mơ hồ của hình tượng
Hình
tượng văn học thường được cấu tạo bằng các phương thức: so sánh, ẩn dụ, liên
tưởng…cộng với ngôn từ giàu hình ảnh làm cho hình tượng mang tính đa trị, nhiều
nghĩa. Một nhân vật văn học hay một trạng thái cảm xúc được xem là hình tượng
khi nó có tính đa trị, tức là nhân vật hay trạng thái cảm xúc đó phải ẩn chứa
trong nó nhiều ý nghĩa, nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc, là thông điệp cho một
quan niệm nhân sinh nào đó của tác giả. Chẳng hạn, xây dựng hình tượng nỗi
buồn, Huy Cận không chỉ nói lên tâm trạng xót xa, đau buồn của mình trước thực
tại mà còn thể hiện nỗi buồn chung của thế hệ, của dân tộc, ẩn đằng sau
nỗi buồn da diết ấy còn lấp lánh những tia sáng hy vọng vào
con người, vào cuộc đời và tương lai đất nước.
Do
tính đa trị nên kéo theo hệ quả là hình tượng cũng có tính mơ hồ. Bởi “vì
hình tượng văn học tác động vào trí tuệ, tưởng tượng và liên tưởng của người
đọc” [16;186]. Chế Lan Viên đã đề ra nguyên tắc “thơ
là gợi chứ không phải mở” để minh chứng cho cách viết có hình tượng:
Bài
thơ anh, anh làm một nửa mà thôi
Còn
một nửa cho mùa thu làm lấy
Cái
xào xạt hồn anh chính là xào xạt lá
Nó
không là anh nhưng nó là mùa.
(Sổ tay thơ)
Với
quan niệm đó, chúng ta có thể thấy, để có hình tượng thơ thì người thi sĩ không
nên trình bày hết những điều mình nghĩ, tức là chỉ nên nói một phần và phần còn
lại phải để cho người đọc tìm hiểu, khám phá. Do tự tìm hiểu, khám phá, người
đọc phải liên tưởng, tưởng tượng. Do không có sự liên tưởng, tưởng tượng nào
giống nhau nên hình tượng văn học mang tính mơ hồ.
Cùng
một hình tượng văn học nhưng mỗi người tiếp nhận sẽ sáng tạo cho
riêng mình một hình ảnh nhất định tuỳ theo sự tưởng tượng của họ về nhân vật
đó, tác phẩm đó. Thuý Kiều đẹp, điều đó ai cũng biết, nhưng vẻ đẹp của Kiều ở
mỗi người lại khác vì sự tưởng tượng của mỗi người không giống nhau.
Đó
chính là tính đa trị, mơ hồ của hình tượng văn học.
Hình tượng trong thơ trữ tình
Như đã phân tích ở trên, ta thấy không chỉ có văn học mới có hình tượng mà trong điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc…đều có hình tượng của nó với những nét riêng mang tính đặc thù.
Hình tượng trong thơ trữ tình
Như đã phân tích ở trên, ta thấy không chỉ có văn học mới có hình tượng mà trong điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc…đều có hình tượng của nó với những nét riêng mang tính đặc thù.
Những
hình tượng thuộc các lĩnh vực nghệ thuật khác cũng phản ánh cuộc sống một cách
sinh động nhưng chúng được xây dựng bằng chất liệu mang tính vật thể. Còn hình
tượng văn học nói chung và hình tượng thơ nói riêng cũng là bức tranh sinh động
về cuộc sống nhưng chất liệu của nó lại mang tính phi vật thể.
Theo
Hữu Đạt thì:“Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn
chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính
chất vần, điệu với trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nghệ sĩ” .
Như
vậy, ta thấy hình tượng thơ là một phương tiện để phản ánh cuộc sống. Đó
là sản phẩm độc đáo của trí tưởng tượng , óc sáng tạo và cách đánh giá
đối tượng của nhà nghệ sĩ.
Bản
chất nghệ thuật là sáng tạo. Vì thế, hình tượng phải ngày càng mới lạ, độc đáo
và gắn với hiện thực cuộc sống và con người.
Phương thức xây dựng hình tượng trong thơ trữ tình
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Có nghĩa văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ sử dụng ngôn từ tổ chức tác phẩm. Đặc trưng xã hội thẩm mỹ của văn học là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Như vậy hình tượng văn học được xây dựng bằng ngôn từ. Cái tài của nhà thơ là am hiểu, vận dụng sáng tạo ngôn ngữ trong thơ để tạo nên hình tượng nghệ thuật.
Phương thức xây dựng hình tượng trong thơ trữ tình
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Có nghĩa văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ sử dụng ngôn từ tổ chức tác phẩm. Đặc trưng xã hội thẩm mỹ của văn học là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Như vậy hình tượng văn học được xây dựng bằng ngôn từ. Cái tài của nhà thơ là am hiểu, vận dụng sáng tạo ngôn ngữ trong thơ để tạo nên hình tượng nghệ thuật.
Trước
hết là ở lớp từ ngữ có tính hình tượng. Đó là các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động,
trạng thái. Ví dụ như: tót, nhờn nhợt, trọc lóc…,lớp từ này
sẽ tạo nên một thế giới hình tượng sinh động.
Tiếp
theo là lớp từ ngữ đa nghĩa. Tiếng Việt có nhiều từ đa nghĩa gợi lên sự liên
tưởng đến hình tượng. Chẳng hạn từ mận, đào, vườn hồng…trong bài ca
dao sau đây:
Bây
giờ mận mới hỏi đào:
-Vườn
hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận
hỏi thì đào xin thưa:
-Vườn
hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Cách
ngắt nhịp khéo léo cũng có thể tạo nên hình tượng.
Kìa
đạn, kìa gạo
Kìa
gạo, kìa đạn.
Nhịp
bài thơ gợi lên sự hối hả của đoàn tàu tiếp nối nhau mang lương thực và vũ khí
của hậu phương miền Bắc để chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngoài ra, nhịp
thơ còn gợi lên sự ác liệt của chiến trường và sự khắc nghiệt của những
tháng ngày chiến tranh. Có
thể nói một nghệ sĩ tài hoa là người biết vận dụng linh hoạt lợi thế ngôn ngữ
để xây dựng hình tượng một cách sáng tạo cho riêng mình. Hình tượng đó phải sinh
động và gợi được cảm xúc của người đọc.
Đặc
biệt, hình tượng được xây dựng rất nhiều từ các phương tiện chuyển nghĩa như:
so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, đối lập, nhân hoá v.v…So sánh tu từ trong câu thơ sau
đây của Xuân Diệu thật độc đáo:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
(Vội
vàng)
So
sánh tháng giêng với cặp môi người thiếu nữ thì quả là rất độc đáo. Đôi môi
người thiếu nữ là biểu tượng của cái đẹp, duyên dáng và tinh khiết. Đôi môi mềm
ấy sẽ thốt lên những lời dịu êm, nhẹ nhàng gây ấn tượng đẹp trong lòng người.
Tháng giêng là mùa đẹp nhất trong năm, là mùa bắt đầu một năm mới với những hy
vọng mới. Tháng giêng cũng đẹp, cũngngon như môi người thiếu nữ
vậy. Thật là một sự so sánh hết sức đặc biệt và mới mẻ!
Hay
biện pháp đối lập được Huy Cận sử dụng trong Mai sau cũng tạo
được hiệu quả tu từ độc đáo trong phương thức xây dựng hình tượng.
Chàng
yêu lắm nên bị người hắt hủi
Chàng
yêu lâu nên thiên hạ lìa xa.
Thật
là nghịch lí! Chủ thể trữ tình mang tình yêu chân thành, tha thiết đến cho
người nhưng người không thèm nhận, cũng chẳng đoái hoài đến. Đã vậy, người còn hắt
hủi, lìa xa. Nỗi buồn Huy Cận triền miên, trĩu nặng là vì thế!
Ngoài
ra, cách tổ chức câu thơ khác thường cũng tạo được hình tượng. Bất thường về
ngữ pháp và bất thường về ý đều tạo được những hình tượng độc đáo.
Có
thể thấy rằng, khi sáng tác nhà thơ tận dụng tối đa mọi phương tiện ngôn ngữ để
xây dựng thế giới hình tượng đa dạng, phong phú của con người. Hình tượng thơ
là hình tượng của cảm xúc, suy tư thể hiện cách nhìn, cách đánh giá của chủ thể
trữ tình.
Hình
tượng trong thơ được xây dựng bằng nhiều yếu tố như đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên, chúng tôi chỉ chú trọng khai thác các phương tiện chuyển nghĩa
trong phương thức xây dựng hình tượng nỗi
buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận.
NỖI BUỒN TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN
NỖI BUỒN TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN
Vài nét chính về phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 và tập
thơ Lửa thiêngcủa Huy Cận
Thơ mới và đặc điểm của phong trào Thơ mới
Thơ
mới là thơ có sự thay đổi ở hình thức, ở nội dung cảm xúc, mà đặc biệt là
ở nội dung. Theo Hoài Thanh, Thơ mới là tiếng nói của cái tôi lần
đầu tiên được giải phóng khỏi cái tachung của cộng đồng.
Phong
trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc
khủng hoảng kinh tế. Các nhà thơ mới tương đối thống nhất về thái độ chính trị
và quan điểm mỹ học, có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực. Tuy nhiên, mang nhiều
lí tưởng tốt đẹp nhưng lại gặp thực trạng đen tối của xã hội thực dân lúc bấy
giờ nên các nhà thơ mới dễ rơi vào bế tắc, hụt hẩng. Vì thế, họ luôn mang trong
lòng tâm trạng buồn và những nỗi “đau đời” không tránh khỏi. “Buồn và cô đơn
là nét chung của Thơ mới” .
Cái
buồn đã thấm sâu trên từng trang viết và quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ mới.
“Cô độc là bệnh của chủ nghĩa lãng mạn” . Song, dù buồn và cô
độc nhưng Thơ mới vẫn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự
do. Biểu hiện rất rõ của tinh thần dân tộc là lòng yêu và bảo vệ sự trong sáng
của tiếng Việt. Thơ mới còn thể hiện sâu sắc tinh thần yêu đất nước, yêu thiên
nhiên. Đồng thời, Thơ mới thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.
Thơ
mới lãng mạn mang đậm màu sắc của cái tôi cá nhân. Cái
tôi ấy đã nói lên được nhu cầu lớn trong việc giải phóng tình cảm,
phát huy bản ngã và tự do cá nhân. Do đó, thế giới tâm hồn- tình cảm của con
người được mở rộng và ngày càng phong phú. Thơ mới chú trọng sự sáng tạo mang
màu sắc cá thể (phong cách cá nhân) độc đáo và sắc nét.
Mỗi
nhà thơ mới đều đi tìm lối thoát bằng cách thoát ly khỏi cuộc sống. Nhưng càng
thoát ly lại càng bế tắc, “càng đi sâu vào cái tôi lại càng cô đơn,
vắng
lạnh” (Phan
Cự Đệ).
Thơ
mới lãng mạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ Pháp và
cũng chịu ảnh hưởng của thơ Đường
(Trung Quốc). Sự kết hợp nhuần nhuyễn
giữa Đông và Tây, truyền thống và hiện đại đã làm cho Thơ mới phát triển mạnh
mẽ với những nét độc đáo riêng, tạo nên “một thời đại trong thi ca”
(Hoài Thanh) và tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà.
“Chưa
bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ
màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược
Pháp, ảo não như Huy Cận, quê màu như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và
thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” .
Tập thơ Lửa thiêng
Tập thơ Lửa thiêng
Lửa
thiêng là
tập thơ đầu tay của Huy Cận, ra mắt bạn đọc năm 1940. Tập thơ được Xuân Diệu-
người bạn thơ thân nhất của Huy Cận- giới thiệu với tất cả sự trân trọng và
nhiệt tình:
“…Thơ
Huy Cận không được vui. Âu cũng là sự tự nhiên của đất trời: hàng phi lao đứng
bên sóng xanh kia, gió xa thổi vào, cứ tự nhiên phát ra những lời rầu rĩ…Cái
buồn Huy Cận là cái thương vô hạn hóa thành cái tủi vô cùng: ấy là thứ hận sầu
dài dặc lâu bền, nó gieo hoa trong lòng bọn thi sĩ! Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn
chung của con người…
Huy
Cận nói hộ ta đó; những giọt nước mắt thường đến quanh mi rồi ngừng. Huy Cận đã
vì ta để rơi xuống má…”.
Lửa
thiêng là
một tập thơ kết tinh của những nỗi buồn. Nỗi buồn Huy Cận thời Lửa
thiêng là kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp sầu vũ trụ và
nỗi buồn nhân gian, là sự ý thức về thân phận con người trong cuộc đời nô lệ.
Với Lửa
thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới “những vần thơ buồn
bã, ảo não bậc nhất” . Lửa thiêng có 50 bài thì có
đến 35 bài trực tiếp bộc lộ tâm trạng buồn bã, cô đơn, lạc lõng. Tập thơ đã đưa
tên tuổi Huy Cận lên vị trí hàng đầu trong làng Thơ mới lãng mạn 1932-1945.
Nỗi
buồn của người dân mất nước, mất tự do
Những
nhà thơ lớn bao giờ cũng có sự đồng cảm rộng lớn và sâu sắc trong bất kì hoàn
cảnh nào. Dường như hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì sự đồng cảm càng lớn. Phong
trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và cuộc
khủng hoảng kinh tế trầm trọng , đời sống người
dân vô cùng
khó
khăn, chật vật. Tuy là giai cấp tiểu tư sản trí thức
có học vấn nhưng đời sống của các văn nghệ sĩ cũng hết sức bấp bênh. Do
đó, hơn ai hết, các nhà văn, nhà thơ rất hiểu nỗi khổ của người dân nô lệ sống
trong xiềng xích kẻ thù.
Nói
đến Thơ mới là nói đến nỗi buồn của những tâm hồn đa cảm đa sầu. Buồn bã, cô
đơn là đặc điểm chung của khuynh hướng lãng mạn. Huy Cận cũng không thoát khỏi
khuynh hướng tất yếu ấy. Nỗi buồn của Huy Cận không chỉ xuất phát từ sự đa cảm
của bản thân mà nó còn có nguyên nhân từ đời sống xã hội. Cũng như những nhà
thơ lãng mạn khác, Huy Cận cảm thấy ngột ngạt, ê chề khi phải
sống trong một đất nước mất chủ quyền, mất tự do:
Hay
lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa
Cùng
đất nước và nặng buồn sông núi.
(Mai sau)
Nỗi
buồn đó chính là hệ quả tất yếu khi nhà thơ ý thức được một cách sâu sắc về
cảnh ngộ đất nước và thân phận con người trong xã hội nô lệ, một xã hội bế tắc,
quằn quại. Trong tập thơBài thơ cuộc đời mà Huy Cận sáng tác sau
Cách mạng, tuy giọng thơ và cảm hứng của tác giả có thay đổi nhưng nỗi buồn vẫn
đeo đẳng, phảng phất đâu đó trước thực tại quê hương. Có thể lấy một ví dụ điển
hình trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương:
…Có
vị chân tay co xếp lại
Tròn
xoe tựa thể chiếc thai non
Nhưng
đôi tai rộng dài ngang gối
Cả
cuộc đời nghe đủ chuyện buồn…
Mặt
cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay
theo tám hướng hỏi trời sâu
Một
câu hỏi lớn không lời đáp
Cho
đến bây giờ mặt vẫn chau.
(Các vị La Hán chùa Tây phương)
Đó
là sự trăn trở, vật vã của con người khi phải đối mặt với những cảnh đời đau
khổ, với sự thay đổi của xã hội không tình người. Cuộc đời thay đổi với biết
bao thăng trầm khiến cho thi nhân không nén được tiếng thở dài.
Than
ôi, trời đẹp nhưng trời buồn
Như
cảnh tươi màu rạp cải lương.
(Gíấc ngủ chiều)
Trên
sân khấu cuộc đời đã có biết bao bi kịch diễn ra. Khi cánh màn nhung mở ra,
những cảnh huy hoàng xuất hiện, nào là áo mới, nào là những khuôn mặt đẹp…Nhưng
đằng sau đó là gì? Là lọc lừa, giả dối, là sự xa cách, chia ly. Là sự hả hê của
những người chiến thắng và nỗi chua xót của kẻ thất bại. Cuộc đời cũng như rạp
cải lương với biết bao sắc màu rực rỡ, muôn hình vạn trạng, khó mà phân biệt
được người tốt kẻ xấu. Vì vậy, lòng chân thành của chàng trai hai mươi mang
trong lòng nhiệt huyết tuổi trẻ rất thiết tha với cuộc sống, rất yêu tự do đã
không được đáp trả. Chàng trai ấy lại phải chứng kiến đất nước bị giày xéo, còn
người dân thì phải chịu cảnh nô lệ đau khổ. Còn nỗi buồn nào hơn khi chứng kiến
sự đau khổ của đồng bào mình, dân tộc mình? Nỗi buồn của Huy Cận “có cái gốc
từ lòng yêu đời, từ tình yêu quê hương, đất nước. Nỗi buồn ấy không chán
chường, bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thông và được nhiều người đồng cảm”.
Trước
thực tại tối tăm, tẻ nhạt, quẩn quanh, bế tắc, Huy Cận vẫn cảm nhận được cuộc
đời đang vận động. Tinh tế thấy được sự dịch chuyển ấy, đó là sự thể hiện của
tấm lòng yêu cuộc đời, con người và lòng yêu nước thiết tha.
Nghe
mạch đời đang thao thức âm thanh
Và
nhạc sống vẫn âm thầm tiến tới.
(Vỗ về)
Cái
mạch ngầm chảy trong lòng đất vốn đã khó tìm thấy rồi, huống chi là mạch
đời. Thế nhưng Huy Cận vẫn phát hiện ra. Mạch đời ấy chính
là những xao động sâu kín nhất, vô hình vô thanh trong hồn người. Vậy mà Huy
Cận vẫn cho rằng nó có âm thanh, có thể ngheđược và
thấy được nhạc sống đang âm thầm tiến tới. Qua sự cảm nhận tinh tế,
ta có thể thấy tấm lòng yêu thương sâu nặng của thi nhân với cuộc đời,
với con người. Vì vậy mà nhà thơ cảm nhận được những bước chân xa vắng trên
những dặm mòn lẻ loi, mới cảm nghe được những trái sầu đang rơi nặng tâm hồn
mình.
Từ
đó có thể thấy, lòng yêu đời, tình yêu quê hương của Huy Cận đằm thắm, ẩn dấu
đằng sau nỗi buồn dằng dặc. Vì yêu đời nên khi thấy cuộc đời không tốt đẹp
như ý muốn, đất nước không thanh bình, yên vui, thi nhân mới
buồn
như vậy. Với một tâm hồn đa cảm đa sầu, nhà thơ cảm nhận được cảnh mất mát, lầm
than của đất nước như nỗi đau của chính bản thân mình. Tình yêu ấy là máu thịt,
là linh hồn. Tình yêu ấy không sôi nổi, ồn ào mà thâm trầm, lặng lẽ, nhưng
không kém phần sâu sắc. Nó triền miên, trĩu nặng từng trang thơ. Đó là mạch
ngầm bền bỉ trong tâm hồn Huy Cận! Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng, thấm đượm
hơn cả trong Lửa thiêng là cái sầu về đời người, về trần thế!
Tình
trạng cô đơn, lẻ loi của con người trong xã hội cũ một phần là do họ không tìm
thấy sự giao cảm với cuộc đời. Ngay từ thuở học trò, Huy Cận đã cảm thấy bơ vơ,
đơn chiếc trong những đêm rét mướt ngủ chung với bạn bè trong
nhà trọ. Ngủ chung nhưng vẫn cảm thấy cô độc bởi thi nhân
không tìm thấy sự thân thiết và ngọn lửa ấm áp của tình người, mà chỉ thấy cái
rét mướt, lạnh lẽo của sự cô độc. Có thể nhận thấy điều đó trong những câu thơ
sau:
Bèo
dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh
mông không một chuyến đò ngang
Không
cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng
lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
(Tràng giang)
Cái
buồn ở đây được gợi lên từ một không gian bao la nhưng rời rạc, hờ hững, không
hề có sự giao hòa. Các sự vật của thế giới khách quan vẫn tồn tại và đươc đặt
bên cạnh nhau nhưng giữa chúng chẳng hề có sự liên hệ nào cả. Cầu và đò là
những phương tiện nối kết đôi bờ, để cho con người có thể liên lạc. Thế mà ở
đây không có gì cả, không cầu, không một chuyến đò ngang. Trước mắt
ta là một thế giới không liên hệ, cảnh vật thì đìu hiu, vắng vẻ, con người thì
nhỏ bé, cô độc. Dường như cuộc sống bị bỏ quên! Tất cả tạo nên một nỗi buồn
trùng điệp trong lòng chủ thể trữ tình và ngay cả trong lòng người đọc bao thế
hệ.
Có
thể khẳng định rằng: Nỗi buồn của Huy Cận không phải là nỗi buồn ủy mị, bạc
nhược mà là cái buồn của người có tâm huyết. “Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh
tinh thần của thế hệ không dễ đổi thay, nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không
mang tính riêng tư, không gắn liền với dục vọng, đam mê để rồi chán chường,
tuyệt vọng” . Huy Cận đau buồn vì đất nước rơi vào cảnh xiềng xích
và bế tắc, bất lực vì chưa tìm được lối thoát trong bóng đêm nô lệ. Thế nên,
khi tìm thấy ánh sáng của Cách mạng thì Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu
lắm đã đi theo Cách mạng, đem sức mình phục vụ quê hương!
III.
Nỗi buồn nhân thế- nỗi buồn thời cuộc của giai cấp tiểu tư sản
Tình
trạng cô đơn của giai cấp tiểu tư sản trong xã hội cũ xuất phát từ sự bế tắc
của họ trong hành trình đi tìm niềm giao cảm với cuộc đời. Đó là khuynh hướng
chung của Thơ mới lãng mạn.
Huy
Cận cũng giống như các nhà thơ lãng mạn cùng thời cảm nhận rất rõ nỗi buồn thế
hệ, nỗi buồn của những con người bị mất thiên đường, bị cuộc đời thờ ơ, lạnh
nhạt. Huy Cận ý thức sâu sắc về cá nhân và thế giới nội tâm của mình. Vì vậy mà
nhà thơ càng ý thức sâu sắc về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời đầy gió
bụi. Không tìm được niềm giao cảm nên thi nhân cảm thấy hụt hẩng, thất vọng:
Nhưng
cô độc đã thầm ghi trên trán
Lòng
lạc loài ngay từ thuở sơ sinh.
(Trình bày)
Lòng
chàng xưa chốn nọ với nơi này
Đây
hay đó chỉ dựng chòi cô độc.
(Mai sau)
Con
người sinh ra trong cuộc đời là một điều rất thiêng liêng và có ý nghĩa nhân
sinh sâu sắc. Để tồn tại và phát triển, họ cần phải có sự giao lưu và đoàn kết
với nhau. Điều đó rất có ý nghĩa về mặt tinh thần đối với con người. Trong cuộc
sống phải có tình người. Đó là phương thuốc hiệu nghiệm chữa lành mọi vết
thương và đau khổ . Thế nhưng từ thuở sơ sinh, Huy Cận đã cảm thấy lạc
loài và cô độc, đã thấy sợi buồn giăng mắc khắp nơi.
Lửa
thiêng đưa
ta về một thế giới của nỗi buồn- những nỗi buồn day dẳng, sâu lắng, ảo não, đa
dạng và nhiều cung bậc. Nỗi buồn ấy thấm đẫm cả không gian, kéo dài từ quá khứ
đến hiện tại. Sầu muộn, buồn bã như kết lại, đọng lại thành giọt làm nặng lòng
nhà thơ.
Chàng
Huy Cận khi xưa hay sầu lắm
Gió
trăng ơi! Nay còn nhớ người chăng?
Hơn
một lần chàng đã gởi cho trăng
Nỗi
hiu quạnh của hồn buồn không cớ.
(Mai sau)
Huy
Cận bảo rằng mình cảm thấy hiu quạnh bởi hồn buồn
không cớ. Song đọc thơ Huy Cận ta thấy nỗi buồn của người rõ ràng là có cớ.
Nỗi buồn ấy xuất phát từ tâm trạng chung của một lớp người có cùng lý tưởng,
cùng chung ước mơ, khát vọng. Với tâm hồn lãng mạn đa cảm, giàu tình yêu
thương, nhà thơ thương cho mình và thương cho mọi người.
U
sầu chắc hẳn đang nhanh bước
Lưng
khọm ngàn năm đến chỗ tôi.
(Buồn)
U
sầu không
chỉ đang tiến nhanh đến với một mình Huy Cận mà với tất cả mọi người, đặc biệt
là tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Bởi vì họ cùng được đào tạo trong một môi
trường giống nhau, cùng hấp thụ một nền văn minh Tây học giống nhau và cùng có
một nỗi buồn giống nhau. Đó là nỗi buồn của cả một thế hệ, của những con người
mong muốn sống tốt sống đẹp để cống hiến tài năng và sức trẻ cho đời. Nhưng xã
hội tối tăm không biết quý trọng tài năng và trí tuệ của họ, đã thế còn vùi dập
họ, tấn công dân tộc họ bằng bạo lực, bằng chính sách ngu dân .
Vì vậy Huy Cận đã đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nói lên tâm trạng
buồn bã, cô đơn, xót xa vô hạn này !
Qua
việc tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng, một lần nữa chúng tôi xin đưa ra
nhận định: Tâm trạng cô đơn của Huy Cận chính là tâm trạng chung của các nhà
thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Không chỉ riêng Huy Cận mà Xuân Diệu,
Vũ Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… cũng có nỗi buồn chung này tuy mỗi
người có mỗi cách diễn đạt riêng,“….họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa lòng
nhân loại, không tìm thấy niềm thân mật giữa cõi đời”[26 ;193]. Tầng
lớp tiểu tư sản trí thức cũng ý thức một cách sâu sắc về đất nước đau thương nô
lệ, về số phận buồn tủi của con người trước vận mệnh quê hương. Là người nhạy
cảm, “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những
vần thơ ảo não” [24 ;136].
Ở
Huy Cận, ta không thấy những khát khao âm ĩ, nồng nàn như Xuân Diệu, không thấy
sự mộc mạc, quê mùa như Nguyễn Bính, không thấy cái buồn ủy mị, trụy lạc
như Vũ Hoàng Chương và cũng không thấy cái buồn nhẹnhàng,
vơ vẩn như Lưu Trọng Lư. Huy Cận than thân thì ít mà khóc cho đời, cho người
thì nhiều. Đó chính là tinh thần nhân văn cao đẹp của tác giả Lửa
thiêng !
Không
buồn sao được khi Huy Cận cững như các nhà thơ mới đều có chung tâm trạng
của người dân mất nước, của thế hệ đầu thai nhầm thế kỉ (Vũ
Hoàng Chương), hằng ngày phải chứng kiến xã hội nhiễu nhương, nhân dân chìm
trong nghèo khổ, tối tăm. Bản thân các nhà thơ cũng chẳng hơn gì!
Đôi
guốc năm hiên kéo bốn mùa
Tiền
nhà ít gởi biết chi mua.
(Học sinh)
Do
vậy, “đời buồn, lòng buồn, thơ buồn là điều dễ hiểu” [25;368]. Nỗi buồn
thương của Huy Cận về kiếp người, về thời cuộc hồ như lan rộng khắp đất trời,
lan cả vào lòng người như sương khói làm mờ cảnh vật, rồi buông những giọt
sương là những giọt nước mắt mà con người đồng cảm đã khóc cùng thi nhân. Bởi
vì thấm đượm trong Lửa thiêng chính là tinh thần dân tộc, là
kiếp người trong muôn thuở, là những giá trị nhân văn ẩn trong những câu thơ
buồn ảo não và cô đơn. Đúng như Hà Minh Đức đã từng viết trong tập tiểu luận Một
thời đại trong thi ca: “Lửa thiêng đúng như tên gọi của tập thơ là mạch
tình cảm mang nhiều tình đời, tình người trong những cảnh ngộ buồn chán của xã
hội cũ nhưng vẫn giữ được sự thiêng liêng và niềm tin cậy với cuộc đời”
[25;60].
IV.
Nỗi buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn cảm thấy bơ vơ, cô đơn, lạc lõng giữa
cuộc đời
Trước
hết, nỗi buồn ấy xuất phát từ sự nhạy cảm của Huy Cận với cuộc đời. Bởi chàng
là con của một người mẹ hay sầu- nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ (Mai sau).
Người đa cảm thường hay đa sầu, nhìn vào đâu cũng cảm thấy buồn mà đã buồn thì
không sao nguôi được! Trong bài thơ Ê chề, Huy Cận đã không kiềm
được tiếng thở dài khi cất lên lời than:
Một
chiếc linh hồn nhỏ
Mang
mang thiên cổ sầu.
Chiếc
linh hồn nhỏ ấy chính là chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm! (Mai sau).
Huy Cận buồn vì cô đơn, vì bị người hắt hủi, bị thiên hạ
lìa xa. Đối với nhà thơ, nỗi buồn không chỉ hiển hiện trong nội tâm mà còn
có thể tìm thấy, nghe thấy ở tất cả mọi nơi. Nỗi buồn kết đọng lại thành giọt
tuôn tràn như mưa lũ và khi đi vào thơ Huy Cận thì những giọt sầu ấy lắng đọng
vào hồn người, mang một nỗi buồn man mác, mênh mông, trùng điệp. Có những lúc
ta bắt gặp nụ cười nhẹ nhàng trên môi người thi sĩ khi người đang đón mùa xuân
cuộc đời vào lòng. Tình yêu và niềm khát khao giao cảm với đời như mạch nước
ngầm vẫn chảy mãi và không hề cạn trong tâm hồn nhà thơ.
Ồ
những người ta đi hóng xuân
Cho
tôi theo với, kéo tôi gần!
Rộn
ràng bước nhịp hương vương gót
Nhựa
mạnh tuôn tràn tưởng dính chân.
(Xuân)
Đêm
nay không khí say nồng
Nghìn
cây mở ngọn, muôn lòng hé phơi.
(Xuân ý)
Nặng
tình với cuộc đời như thế, mở lòng đón tình người như thế nhưng nhà thơ đa sầu
đa cảm của chúng ta lại gặp cảnh:
Chàng
yêu lắm nên bị người hắt hủi
Chàng
yêu lâu nên thiên hạ lìa xa.
(Mai
sau)
Tuổi
non dại lòng tôi say mến bạn
Khi
thanh xuân tôi mỏi chạy theo tình
Nhưng
cô độc đã thầm ghi trên trán
Lòng
lạc loài ngay từ thưở sơ sinh.
(Trình bày)
Ngay
cả trong lúc vui, ta cũng bắt gặp nỗi buồn thấp thoáng, dường như nỗi buồn chưa
bao giờ lìa xa người thi sĩ.
Chính
sự trái ngược giữa một bên là tình yêu thiết tha và một bên là sự thờ ơ, ghẻ
lạnh đã tạo nên những mối băn khoăn, giằng xé trong nội tâm, khiến nhà thơ cảm
thấy bơ vơ, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời. Không buồn sao được khi nhà thơ say
mến bạn với tất cả lòng thành, chàng yêu lắm, yêu lâu và
yêu
sâu
sắc nhưng cái chàng nhận được là sự hắt hủi, lìa xa và cô lập
của con người. Chính vì buồn nên thơ Huy Cận có vẻ già dặn, chín chắn của một
người từng trải, chiêm nghiệm nhiều khía cạnh cuộc đời tuy nhà thơ lúc này chỉ
mới đôi mươi. Cái ảo não thê lương dường như lên tới đỉnh khi nhà thơ bắt gặp
chiếc xe tang đưa linh hồn người đã khuất về thế giới nghìn thu. Thi nhân xót
xa, nghẹn ngào trước cái hữu hạn của đời người:
Ai
chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
Chiều
mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Aỏ
não quá trời buồn chiều vĩnh biệt!
(Nhạc sầu)
Ai
chẳng đau đớn trước sự kết thúc của một kiếp người! Có điều mỗi người có cách
biểu hiện khác nhau, và Huy Cận đã nói hộ chúng ta những điều sâu kín nhất
trong tâm hồn mà ta ít khi thể hiện. Lang thang trong thế giới đau buồn nhưng
Huy Cận không quay lưng với cuộc sống. Dù có tìm về với cảnh cũ, người xưa song
thi nhân không lìa bỏ thực tại:
Ngàn
năm sực tỉnh lê thê
Trên
thành son nhạt- Chiều tê cúi đầu….
(Chiều xưa)
Giấc
mộng dù có đẹp cũng không thể là hiện thực, quá khứ dù có huy hoàng và lãng mạn
cũng không thể xóa đi chuỗi ngày buồn của thực tại. Thi nhân sực tỉnh để sống
ngày hôm nay, không thể lấy ngày hôm qua làm cứu cánh cho nỗi buồn.
Đó
cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa Huy Cận và Chế Lan Viên trên con đường tìm
về quá khứ. Nhà thơ họ Chế chỉ gặp những cảnh Điêu tàn đau đớn
khi quay về tháp xưa:
Đây,
những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn
ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.
(Trên đường về)
Còn
Huy Cận trở về với trời xưa, người xưa để thắp sáng ngọn Lửa thiêng cho
muôn đời. Ta bắt gặp trong cái buồn của một tâm hồn nhạy cảm, luôn cảm thấy bơ
vơ, lạc lõng giữa cuộc đời là khát khao giao cảm với mọi người là lòng ham
sống, yêu thiết tha và gắn bó máu thịt với thế giới này. Đó là nét đẹp rất đáng
quý trong tâm hồn nhà thơ Huy Cận.
Lòng
ham sống được thể hiện rõ rệt ở tình yêu của tuổi trẻ. Tình yêu trong sáng đáng
yêu chỉ có ở tuổi học trò, ở những cô gái, chàng trai có linh hồn bằng
ngọc chưa vướng bụi đời, nhưng mộng đẹp vỡ tan, nhà thơ buồn bã, lắng
nghe nhịp đời mình trải dài theo năm tháng, cô đơn và lặng lẽ.
Hồn
đơn chiếc như đảo rời dặm bể
Suốt
một đời như núi đứng riêng tây
Lòng
chàng xưa chốn nọ với nơi này
Đây
hay đó chỉ dựng chòi cô độc.
(Mai sau)
Cuộc
đời hữu hạn và thời gian có thể làm phai mờ tất cả. Song, những tấm lòng chân
thành và cao đẹp sẽ mãi mãi không có gì xoá nổi. Nhà thơ Trinh Đường trong tiểu
luận Huy Cận, từ Lửa thiêng đã đưa ra nhận xét thật xác đáng
và rất hay:
“Chàng
Huy Cận khi xưa hay sầu lắm và gió trăng, và người đời vẫn còn nhớ đến người
đấy thôi. Chỉ lo là của giả chứ nghìn lần bị vùi dưới lớp bụi thời gian thì
ngọc quý vẫn là ngọc quý” [5;264]. Chúng tôi cũng tin rằng ngọn Lửa
thiêng sẽ sáng mãi trong lòng độc giả ở mọi nơi và ở mọi thời đại, vì
ngọn lửa ấy được thắp sáng bởi một trái tim đầy nhiệt thành của một người đã
cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật, cho dân tộc. Huy Cận sẽ mãi hiện hữu
trong lòng chúng ta, bởi thi nhân đã giúp chúng ta bộc lộ những nỗi niềm sâu
kín nhất mà từ lâu ta đã bỏ quên để bắt nhịp dòng đời hối hả, hoặc rụt rè ngại
ngần không dám nói. “Huy Cận gợi lên và ta bỗng nhớ, bỗng cảm thấy chút gì
như thiếu sót vì đã hững hờ với quanh ta chan chứa bao tình” .
Từ
đó, chúng tôi nhận thấy rằng: Triền miên trong nỗi sầu thương ảo não nhưng Huy
Cận dường như chưa bao giờ tuyệt vọng, nhà thơ cũng không chán chường rũ bỏ tất
cả. Thi sĩ họ Cù vẫn thiết tha gắn bó ràng rịt với cuộc sống, với người đời.
Nhiều lúc bị cuộc đời hờ hững song nhà thơ vẫn không sao xa lánh mọi người
được, ông vẫn yêu say đắm và mãnh liệt
NGHỆ
THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NỖI BUỒN TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY
CẬN
Hình tượng
nỗi buồn qua so sánh nghệ thuật
So
sánh là một dạng thức phổ biến trong giao tiếp hằng ngày. So sánh giúp cho
người nghe hiểu nhanh được vấn đề vì vấn đề đó đã được cụ thể hóa sinh
động và dễ hiểu. Đặc biệt trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình,
gợi cảm. “ Hình tượng là gì? Chính là sự so sánh…” (A.
Pho-răng-xơ).
So
sánh là một hình thức tổ chức lời nói thường được dùng trong thơ để miêu tả,
thể hiện hình tượng. Hình như nhà thơ nào cũng tận dụng sáng tạo hình thức này
trong thơ của mình để miêu tả, biểu hiện, phản ánh cuộc sống. Cũng vì vậy, các
nhà lý luận, nghiên cứu văn học thương đề cập nhiều về hình thức trên.
Trong
giáo trình Phong cách học Tiếng Việt, Nguyễn Thái Hòa đã nêu ra
định nghĩa về biện pháp so sánh như sau:
“So
sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác
miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ
thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe” ).
Như
vậy, so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa hai đối tượng khác nhau và
hai đối tượng đem ra đối chiếu phải có đặc điểm tương đồng nào đó.
Nhà
thơ tận dụng mọi khả năng của ngôn ngữ để xây dựng hình tượng thơ. Qua hình
tượng, nhà thơ bộc lộ tư tưởng và quan niệm của mình về cuộc sống, về thời đại.
Huy Cận cũng thế, hình tượng nỗi buồn của thi nhân chủ yếu được xây dựng qua
các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc. Một trong những thủ pháp đó là so sánh nghệ
thuật. Bằng sự linh hoạt và sáng tạo trong diễn tả, hình tượng nỗi buồn trong Lửa
thiêng mang vẻ đẹp rất độc đáo, thể hiện cách nhìn của nhà thơ.
Cũng
như hầu hết các nhà thơ mới lãng mạn 1932- 1945, Huy Cận mang một nỗi buồn thời
thế, nhưng nỗi buồn của Huy Cận mang một âm hưởng khác, một đường nét khác, da
diết và day dẳng hơn nhiều. Nỗi buồn ấy thấm đẫm từng trang thơ làm ảo
não, đơn côi, cô độc cả một đời.
Trong Lửa
thiêng có 50 bài thơ thì đã có 26 bài có sử dụng so sánh nghệ
thuật với tỉ lệ 52%. Trong đó, so sánh trực tiếp thể hiện hình tượng nỗi buồn
chỉ có 7 bài, tỉ lệ 14%, nhưng đó lại là đóng góp quan trọng của Huy Cận, làm
cho hình tượng trong thơ thêm phong phú và đa dạng.
Với
phương tiện so sánh, hình tượng nỗi buồn hiện lên với một dáng dấp, một hình
hài riêng rất cụ thể, sinh động nhưng mang tính khái quát, tiêu biểu cho cả một
lớp người. Đó là tầng lớp trí thức tiểu tư sản trong xã hội. Họ cũng bị chế độ
thực dân đè nén, chèn ép như những tầng lớp khác khi họ phải sống trong một đất
nước nô lệ.
Nếu
Chúa biết bao nhiêu lòng hốt hoảng
Trong
sầu đen đã gãy cánh như dơi
Nếu
Chúa biết bao nhiêu giòng lệ đắng
Chảy
như sông, không rửa sạch sầu đời.
(Thân thể)
Trong
không khí ngột ngạt của xã hội cũ, cái sầu đời với bao
nhiêu giòng lệ đắng sẽ không bao giờ cạn. Nước mắt tủi hờn, đau đớn
vẫn chảy như sông nhưng không rửa sạch sầu
đời. Con người chỉ thấy trước mắt mình một không gian đen tối chưa tìm được
lối đi. Họ bỗng thấylòng hốt hoảng vì bế tắc, vì sợ
hãi. Cuộc đời sẽ đi về đâu? Vận mệnh đất nước sẽ như thế nào? Con người rồi sẽ
sống ra sao? Bao nhiêu câu hỏi đặt ra nhưng không có câu trả lời, làm nhức nhối
trái tim đa cảm của chàng trai hai mươi tuổi. Nỗi buồn song hành với sự cô đơn
trần thế ngày thêm triền miên, âm ĩ hơn. Cuộc đời hữu hạn và khi từ giã cõi
trần gian con người lại mang một nỗi buồn khác. Đó là nỗi buồn của những linh
hồn lạc loài, lạnh lẽo nơi mồ sâu, trong cảnh hoang vắng xa khuất bóng dáng con
người.
Hàng
cờ đen là bóng quạ chập chờn
Báo
tin xấu, dẫn hồn người đã xế…
(Nhạc sầu)
Nhà
thơ so sánh hàng cờ đen với bóng quạ, cho thấy một
hình tượng ghê rợn mang tin chẳng lành. Trong dân gian, người ta cho rằng tiếng
quạ kêu là báo hiệu của điềm gỡ và thường gắn với sự chết chóc. Ở đây, những hàng
cờ đen được ví như những bóng quạ chập chờn đến
dẫn hồn người đã xế. Một
hình
tượng gợi lên sự tang tóc, chia ly. Người ra đi có thể ngủ giấc ngàn thu nhưng
kẻ ở lại ngàn năm vẫn nhớ. Vì còn nhớ nên còn buồn. Buồn cho sự chia ly vĩnh
viễn, buồn cho người đã khuất lạnh lẽo nơi mồ sâu và buồn cho sự hữu hạn của
kiếp người. So sánh của Huy Cận ở đây mang triết lý về nhân sinh. Chỉ mới hai
mươi tuổi nhưng Huy Cận đã nhìn bằng con mắt trải nghiệm và sự già dặn của tâm
hồn. Đó chính là thành công của nhà thơ trẻ Cù Huy Cận!
Cuộc
đời là một chuỗi ngày vô vọng đầy ắp chuyện buồn và tẻ nhạt như tàu
không đổi chuyến.Không có gì đơn điệu và tẻ nhạt hơn sự lặp đi lặp lại một
cách nhàm chán của con tàu không đổi chuyến. Từ ngày này qua
ngày khác, con tàu vẫn cứ xuất phát ở một thời điểm nhất định, trong một thời
gian nhất định, không hề có sự thay đổi mới mẻ nào. Cuộc đời cũng thế, tháng
ngày chồng chất lên nhau tuần hoàn theo quy luật tự nhiên. Như thế không tẻ
nhạt và nhàm chán lắm sao! Ấy vậy mà Huy Cận lại nghĩ rằng, khi kết thúc kiếp
người, linh hồn cũng không thể thanh thản ra đi. Khi trở về cát bụi, con người
bỗng thấy da diết, xót xa và thương nhớ vô bờ cuộc đời trần thế.
Hồn
ơi! có nhớ giấc trần gian
Nệm
là hơi thở, da: chăn ấm
Xương
cọ vào xương bớt nỗi hàn ?
(Ngủ chung)
Cuộc
sống trần gian có nệm là hơi thở và da là chăn
ấm ấp ủ giấc ngủ con người. Còn khi về bên kia thế giới , hồn sẽ lạnh
lẽo trong đêm dài ướt rượi khí tha ma. Sự ấm áp của nệm, của chăn và cả cơ thể
con người không thể xua được cái lạnh để sưởi ấm hồn sầu. Do vậy, thi sĩ cảm
thấy bơ vơ, cô độc.
Người
thi sĩ đã nguyện cầu Thượng đế
Một
đôi lần nhưng vốn nghiệp đi hoang
Thì
chết rồi, chắc người vẫn lang thang
Như
buổi sống ở trong bầu trăng gió.
(Mai
sau)
Khi
chết cũng như lúc sống, thi sĩ vẫn cứ lang thang không biết đâu là điểm dừng. Buổi
sống ở trong bầu trăng gió, mọi người cùng hít thở chung bầu không khí
nhưng giữa họ không có sự giao hoà, không có sự gắn kết. Cuộc sống tẻ nhạt với
những tâm hồn hờ hững. Vì thế, thi sĩ lang thang với sự
cô
độc của riêng mình , với tâm sự u uất không biết chia sẻ cùng
ai . Đến khi chết, hồn cũng không tìm được tri kỉ, tri âm mà vẫn lang thang
khắp chốn. Đã vậy, lúc ta đem tình trao cho người thì người không thèm nhận.
Người còn hắt hủi, rẻ khinh. Nỗi đau lòng ấy hẳn ai cũng hiểu, thế những có bao
nhiêu người biết cảm thông, chia sẻ!
Cuộc
đời tẻ nhạt và buồn chán như thế, nhưng thi sĩ vẫn gắn bó thiết tha. Và vì lưu
luyến sự sống nên nhà thơ luôn đối diện với thực tại. Thi nhân đến với thiên
nhiên để tìm sự an ủi, dung hòa. Song người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ (Truyện Kiều- Nguyễn Du), cho nên thiên nhiên thời Lửa
thiêng cũng buồn bã và cô đơn.
Than
ôi! Trời đẹp nhưng trời buồn
Như
cảnh tươi màu rạp cải lương.
(Giấc ngủ chiều)
Trên
sân khấu, cảnh được trang trí bằng những màu sác huy hoàng, rực rỡ, những mảnh
đời trong những vở diễn trên sân khấu phần lớn là những mảnh đời đầy bi kịch
với những đau khổ chất ngất. Thiên nhiên, vũ trụ đẹp nhưng vẻ đẹp ấy giống như
nét huy hoàng, rực rỡ của sân khấu chứa đựng những nỗi buồn bất tận. Đó là sự ủ
rũ, tàn phai của cảnh vật và cái đau đớn của số phận. Cái đẹp hàm chứa cả cái
buồn của thiên nhiên và cái bi kịch của đời người. Chỉ một câu so sánh mà đã
nêu bật được biết bao ý nghĩa tư tưởng và giá trị nhân văn.
Thiên
nhiên ở đây mang đầy tâm trạng, đã hòa vào nỗi đau của nhân vật trữ tình, “là
máu thịt của hồn sầu” (Lê Bảo). Dù thiên nhiên có đôi lúc cũng tươi trẻ, là
đối tượng để nhà thơ gửi gắm niềm tin vào cuộc đời, vào con người:
Gió
thổi sân trường chiều chủ nhật
Ôi
thời thơ bé tuổi mười lăm
Nắng
hoe rải nhặt hoa trên đất
Đời
dịu vừa như nguyệt trước rằm.
(Học sinh)
Nhưng
cái buồn ảo não vẫn đeo đẳng không hề rời xa nhà thơ, đến nỗi khiến thi nhân
phải thốt lên:
Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể
Suốt một đời như núi đứng riêng tây. (Mai sau)Sự vắng vẻ của đảo rời dặm bể, của núi đứng riêng tây gợi lên nét hoang vu, lặng lẽ của cảnh vật. Đảo ở đây không có sự liên lạc nào với đất liền, cắt đứt mọi quan hệ, mọi sinh hoạt với con người một khi đã rời dặm bể. Núi cũng thế, bản thân núi từ ngàn xưa đã mang vẻ cô đơn, hoang vắng , giờ đây lại còn đứng riêng tây thì sự hoang vắng càng tăng lên gấp bội. Ví hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể, như núi đứng riêng tây thì sự cô đơn trong lòng nhà thơ đã lên đến đỉnh điểm rồi. Chẳng những hồn buồn vì cô đơn rợn ngợp mà thân xác cũng không hơn gì.
Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể
Suốt một đời như núi đứng riêng tây. (Mai sau)Sự vắng vẻ của đảo rời dặm bể, của núi đứng riêng tây gợi lên nét hoang vu, lặng lẽ của cảnh vật. Đảo ở đây không có sự liên lạc nào với đất liền, cắt đứt mọi quan hệ, mọi sinh hoạt với con người một khi đã rời dặm bể. Núi cũng thế, bản thân núi từ ngàn xưa đã mang vẻ cô đơn, hoang vắng , giờ đây lại còn đứng riêng tây thì sự hoang vắng càng tăng lên gấp bội. Ví hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể, như núi đứng riêng tây thì sự cô đơn trong lòng nhà thơ đã lên đến đỉnh điểm rồi. Chẳng những hồn buồn vì cô đơn rợn ngợp mà thân xác cũng không hơn gì.
Tôi
đâu biết thịt xương là sông núi
Chia
biệt người ra từng xứ cô đơn.
(Trình bày)
Thể
xác lúc này là sông núi cách trở, là hàng rào ngăn cách, phân
chia con người ra từng xứ cô đơn. Núi sông trùng điệp, cách trở là
ranh giới để phân chia địa lí đất đai. Còn thịt xương con người là ranh giới để
phân chia tâm hồn ra từng xứ cô đơn. Con người trong thời đại đó luôn cảm thấy
cô dơn, bơ vơ và lạc lõng. So sánh thịt xương với sông núi là một so sánh hết sức
mới mẻ và độc đáo, vừa làm người đọc thú vị khi liên tưởng vừa mang tính triết
lý cao. Với Huy Cận thì thân xác con người cũng có ranh giới, chỉ tại con người
chưa nhận ra đấy thôi !
Sống
trong một đất nước nô lệ, mất hết quyền tự do, luôn đau khổ, chán chường với
một cuộc đời tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến thì ai mà chẳng
buồn, nhất là với một con người nhạy cảm, đa sầu như Huy Cận. Còn gì đau xót
hơn khi con người bắt đầu ý thức được sự tồn tại của mình trong xã hội thì phải
sống trong một xã hội ngột ngạt không còn sinh khí, chết dần chết mòn trong sự
tầm thường của cuộc đời tẻ nhạt . Vì thế, nỗi sầu cứ cô đặc
lại, đong đầy mãi trong lòng thi nhân. Nỗi buồn ấy da diết và day dẳng lắm!
Ngay
cả trong tình yêu cũng nhuốm vẻ ảm đạm của cảnh chia ly. Bởi nhà thơ nhận ra
rằnggần gũi song le vẫn biệt rào. Sự cách biệt không phải ở không gian
hay thời gian mà là ở lòng người, ở sự thờ ơ, ghẻ lạnh của chính con người. Đó
là nỗi đau tuy thầm lặng nhưng âm ĩ và đeo đẳng suốt đời . Nỗi
buồn
nào cũng có thể nguôi ngoai theo năm tháng nhưng dư âm của sự tan vỡ thì tồn
tại mãi, nhất là đối với tình cảm ban sơ của những chàng trai mười lăm
tuổi vào trường- rương nhỏ nhỏ với linh hồn bằng ngọc (Tựu trường).
Biện
pháp so sánh nghệ thuật đã góp phần tạo nên nét đặc sắc, sinh động cho hình
tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận. Bởi đây là biện
pháp nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao và gợi lên sự liên tưởng mạnh. Những hình
tượng vừa mới lạ, độc đáo vừa có sức sống lâu dài như: hồn đơn chiếc,
đảo rời dặm bể, nguyệt trước rằm, hàng cờ đen, bóng quạ chập chờn, sầu đen, sầu
đời, chòi cô độc, núi đứng riêng tây v.v…vừa có chức năng biểu hiện vừa có
chức năng biểu cảm. Do đó hình tượng nỗi buồn thật sinh động, gợi cảm, gợi
hình. Đọc Lửa thiêng của Huy Cận, người đọc sẽ cảm nhận ngay
được nỗi buồn chất chứa trong từng câu, từng chữ thật mênh mang khó tả. Nó làm
ta phải suy ngẫm, đồng cảm và truyền cho ta sức mạnh của yêu thương. “Và
nghe thơ Huy Cận, tự nhiên lòng ta lây cái cảm thương không cùng của thi sĩ và
trước nhất, ta cảm thương thi sĩ rất nhiều cảm thương”.
Hình tượng nỗi buồn qua biên pháp ẩn dụ tu từ
Hình tượng nỗi buồn qua biên pháp ẩn dụ tu từ
Nghiên
cứu nghệ thuật xây dựng hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của
Huy Cận, chúng tôi phát hiện rằng, bên cạnh so sánh nghệ thuật, nhà thơ còn sử
dụng ẩn dụ tu từ. Có nhiều định nghĩa về biện pháp này nhưng chúng tôi nhận
thấy định nghĩa của Nguyễn Thái Hoà là có phần đơn giản và dễ hiểu hơn cả.
“Ẩn
dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm lược đi chỉ còn
lại vế được so sánh. Như vậy, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một đối
tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng
nào đó” [13 ;194].
Ẩn
dụ khác so sánh ở chỗ : “Nếu ở so sánh có mặt cả hai thành phần được so sánh
thì ẩn dụ là so sánh ngầm” , tức là chỉ còn lại một
thành phần được so sánh. Ẩn dụ nổi bật ở tính biểu cảm, mở ra những khả năng vô
tận cho việc nhìn ra nét gần nhau của những sự vật, hiện tượng khác xa nhau.
Theo Lại Nguyên Ân thì ẩn dụ sẽ “đem lại sự sắc bén và sáng rõ cho ý tưởng,
nó làm mới lại đối tượng, tạo ra hình tượng cảm tính cụ thể, sắc nét, biểu hiện
được những cảm xúc sống động nhưng tiềm ẩn, làm tăng ấn tượng”. “Ở
ẩn dụ thể hiện bản chất đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật” .
Thơ
mới lãng mạn buồn, điều đó ai cũng biết nhưng buồn như Huy Cận thì
chưa ai có. Nỗi buồn ấy triền miên day dẳng, trĩu nặng tâm hồn. Thể hiện nỗi cô
đơn, buồn thương tíếc nhớ, Huy Cận sử dụng biện pháp ẩn dụ tu từ và đã rất
thành công. Qua khảo sát tập thơ Lửa thiêng, chúng tôi nhận thấy ẩn
dụ trong thơ Huy cận rất phong phú, đa dạng và độc đáo. Nỗi buồn qua lăng kính
của biện pháp ẩn dụ đã hiện lên với một hình hài cụ thể, vừa sinh động vừa kín
đáo trong việc biểu lộ cảm xúc, tư tưởng. Hầu hết, các bài thơ đều có hình ảnh
ẩn dụ và các ẩn dụ đều mang đến cho Lửa thiêng hiệu quả tu từ
rất cao. Nhân thế như nghe đâu đây cái man mác buồn của thời gian lặng lẽ trôi,
cái mênh mông vô tận của vũ trụ xoay vần và cái nhỏ bé, đơn độc của kiếp người.
Huy
Cận ý thức một cách sâu sắc về triết lý nhân sinh ấy. Thời gian vẫn vô tình
trôi, còn đời người thì hữu hạn. Vì ý thức được điều đó nên Huy Cận cảm thấy
đau xót và cảm thương, tình thương trong tâm hồn Huy Cận như ngọc trai ẩn chìm
dưới đại dương bao la, càng trải qua sóng dập gió vùi càng có nhiều khả năng
phát sáng. Vào một buổi chiều muà thu năm 1939, bên bờ nam bến Chèm thuộc sông
Hồng, Huy Cận nhìn dòng sông mênh mông, bát ngát và cảm thương cho những kiếp người
trôi nổi giữa dòng đời vô định:
Sóng
gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con
thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền
về nước lại sầu trăm ngả
Củi
một cành khô lạc mấy dòng.
(Tràng giang)
Hình
ảnh ẩn dụ sóng gợn tràng giang, thuyền về nước lại, củi một cành khô…gợi
lên cảm giác chia ly, cách biệt và sự cô đơn, lẻ loi, bất định của con người.
Sóng gợn tràng giang trùng trùng điệp như nỗi buồn trùng điệp chất lên nhau.
Con thuyền không phải là hình ảnh mới, chúng ta đã bắt gặp hình ảnh này trong
ca dao.
Thuyền
về có nhớ bến chăng ?
Bến
thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Con
thuyền là hình ảnh tượng trưng cho sự chuyển động, rày đây mai đó không ổn
định. Đó là hình tượng của người con trai mà chí tang bồng luôn giục giã họ
trên bước đường phiêu lãng. Còn con thuyền ở đây có điểm mới, con
thuyền xuôi mái không còn chỉ người con trai nữa mà đó là hình ảnh
tượng trưng cho những cuộc đời lênh đênh, vô định và nhỏ bé trước cái mênh mông
của đất trời. Ví nỗi buồn với những lớp sóng trùng điệp có thể thấy nỗi buồn đó
nhiều như thế nào. Ở đây, chiếc thuyền buông mái xuôi dòng theo con nước, tưởng
chừng như hai sự vật gắn bó thân thiết với nhau. Nhưng không phải vậy, thuyền
và nước chỉ song song chứ không liên hệ gì với nhau cả. Thuyền đi
với dòng để rồi chia ly với dòng, thuyền về nước lại sầu trăm ngả .
Nước buồn nên không biết trôi về đâu trên trăm ngả dòng sông, cũng như người
buồn không biết đi về đâu trên muôn nẻo đường đời!
Đoạn
thơ đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Không
gian càng bao la với sông dài trời rộng thì con người càng nhỏ
bé và hữu hạn. Hình ảnh con thuyền xuôi mái làm nổi bật lên
cái mênh mông, hoang vắng của bến cô liêu. Cảnh vật càng buồn hơn
với hình ảnh củi một cành khô bấp bênh, không biết sẽ lạc về
đâu, cũng như số phận con người cô đơn, lạc lõng giữa cái lênh đênh, vô định
của dòng đời.
Cái
tài của Huy Cận còn thể hiện ở chỗ thi nhân lấy hình ảnh của một cành củi khô
để chỉ con người. Không phải là nhánh củi mà là cành củi nhỏ bé và cô độc, đã
vậy nó còn mất hết sức sống. Cây sinh sống trên rừng, để khi già cỗi mục nát,
nó cũng cố bám xuống đất như một cách trở về cội nguồn. Và ở đó, cho dù nó có
chết đi, nó cũng không cô độc. Còn ở đây, Cành củi khô lạc giữa dòng trong
một môi trường xa lạ, không bè bạn, không nơi bám víu. Một mình trôi nổi
giữa dòng sông bao la, mặc cho những con sóng xô đẩy về muôn hướng. Đó
chính là hình ảnh con người trong xã hội cũ, dù cố gắng chống chọi lại sự ngột
ngạt, bế tắc nhưng họ thật nhỏ bé và bất lực trước cuộc đời. Họ không thể làm gì
được, đành để mặc cho dòng đời đẩy đưa.
Vì
vậy, một người tinh tế và nhạy cảm như Huy Cận làm sao không buồn cho được! Hai
mươi tuổi, nhà thơ cảm nghe trong gió tiếng thở dài của vũ trụ. Như một nốt
lặng trầm buồn trong một bản hoà tấu cô đơn, ông cảm thấy xôn xao mỗi khi cơn
gió đến xoá đi những dấu chân trên đường bụi:
Và
sau này nữa, dấu chân ai
Sẽ
ghi rồi xoá trên đường bạc
Mỗi
lúc trời đau gió thở dài ?
(Dấu chân trên đường)
Ta
nghe trong gió tiếng thở dài của Huy Cận khi chứng kiến những dấu chân xa
lạ bước trùng lên nhau trong cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên rồi chia
ly mãi
mãi.
Những cuộc chia ly không hẹn ngày tái ngộ khiến trời đau, gió thở dài.
Trời đau nên trời rơi lệ, gió buồn nên gió thở than. Đó cũng là những giọt nước
mắt và những lời thở than của con người, nhưng dù có thở than, có van xin cũng
không thể làm cho khoảng cách giữa mọi người ngắn lại. Cái đau của trời và lời
than thở, thì thầm của gió chính là nỗi lòng của người. Cái hay của Huy Cận là
nhà thơ không nói mình buồn như thế nào khi nhìn thấy hình ảnh những con người
gặp nhau một lần trong đời rồi không bao giờ gặp lại, nhưng ta có thể nghe
trong gió lời thở than của thi nhân, lắng nghe tiếng khóc của người qua nỗi đau
của trời đất. Từ đó có thể thấy rằng khao khát giao cảm, hoà hợp với con người
của nhà thơ xem ra khó thực hiện được !
Vì
thế, Huy Cận cảm thấy buồn hơn bao giờ hết. Buồn vì nhân thế chia ly, bản thân
thi nhân cũng không thể làm gì được. Chính người cũng bị ghẻ lạnh, xa
cách.
Chàng
trai gối mộng trên trang sách
Tỉnh
giấc, mùa xuân rụng hết hồng
Đời
mất về đâu hỡi tháng, năm ?
Xuân
không mọc nữa với trăng rằm !
Chẳng
bao lâu ngủ sầu trong đất
Vĩnh
viễn mùa đông lạnh chỗ nằm
Nay
hẵng còn đây ấm mặt trời
Mà
sao lòng lạnh tuyết băng rơi ?
(Buồn)
Mùa
xuân là mùa ấm áp, trăm hoa đua nở, hoa lá xanh tươi. Nàng xuân nồng nàn mang
hạnh phúc đến cho con người. Đó là mùa của sự sum họp, đoàn viên, con người
cũng cảm thấy vui hơn, tươi trẻ và yêu đời hơn. Cùng với mùa xuân đất trời, họ
bắt đầu một khởi đầu mới đầy may mắn. Mùa xuân còn tượng trưng cho tuổi trẻ đầy
nhiệt huyết. Ở đây, Huy Cận muốn đề cập đến một quy luật nhân sinh mang tính triết
lý. Một năm bắt đầu bằng mùa xuân và một đời người bắt đầu bằng tuổi trẻ. Ấy
thế mà khi nhà thơ ý thức một cách sâu sắc nhất về con người, về cuộc đời- tỉnh
giấc- thì mùa xuân rụng hết hồng . Nhiệt huyết tuổi
trẻ giờ đã tắt, lòng chàng trai cũng không còn tha thiết nữa. Ước mơ cùng mọi
người đón mùa xuân cuộc đời đã không thành , chàng
chỉ
thấy vĩnh viễn mùa đông lạnh chỗ nằm và lòng lạnh
tuyết băng rơi. Bao ước mơ, hoài bão không thực hiện được, lòng thi nhân
nặng trĩu nỗi buồn, người ngồi nghe cô đơn giày xéo tâm hồn mình. Vũ trụ mênh
mông thế, nhân gian rộng lớn thế mà chẳng ai tri âm, tri kỉ! Thật là buồn!
Có
thể đề cập đến một vấn đề nữa trong Lửa thiêng, đó là những hình ẩn
dụ về những số phận đau khổ của con người, vận mệnh của non sông đất nước. Đó
là “cảm hứng về đất nước đau thương nô lệ, về số phận buồn tủi của con người
trước vận mệnh non sông” .
Nỗi
buồn dân tộc thấm đẫm từng trang thơ, nhạt nhoà trên đôi mắt người thi sĩ. Nằm
im dưới gốc cây tơ, nhà thơ Trông lên để thấy những chiếc
lá lìa cành xên không trung. Những chiếc lá nhỏ bé con con trơ vơ giữa bầuoay tít tr trời. Hình ảnh ẩn dụ lá thon mình thuyền thật độc
đáo và đặc biệt. Chiếc lá trong tưởng tượng của Huy Cận như những chiếc thuyền
được gió đẩy lên biển trời để thoát khỏi sự tù túng, chật hẹp
của cuộc đời trần thế, tìm đến với một không gian rộng lớn, mênh mông hơn. Đó
là ước mơ của Huy Cận, ước mơ thoát khỏi cuộc đờitẻ nhạt như tàu không đổi
chuyến , đến với một vũ trụ bao la đầy ắp điều mới lạ. Không chỉ dừng
lại ở sự so sánh ngầm hết sức độc đáo đó, nhà thơ còn tinh tế lồng ẩn vào hình
ảnh ấy một tâm sự. Tâm sự của một người nhỏ bé, cô đơn giữa biển đời, chẳng
biết bến bờ là đâu, mặc cho dòng đời xô đẩy mà không biết điểm
dừng. Đó phải chăng là tâm trạng chung của tầng lớp trí thức tiểu tư sản
lúc bấy giờ ? Họ không tìm được hướng đi cho mình, chưa tìm ra chân lí và
còn mịt mờ trong bế tắc? Đó phải chăng là cảm giác Thiếu quê hương (Nguyễn
Tuân) dù đang sống trên chính mảnh đất sinh ra mình? Nếu không phải vậy thì sao
Huy Cận đã có lần đau xót thốt lên:
Lớp
lớp mây cao đùn núi bạc
Chim
nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng
quê dợn dợn vời con nước
Không
khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Tràng giang)
Hình
ảnh chim nghiêng cánh nhỏ đối lập với khung cảnh bao la, rộng
lớn, hùng vĩ của vũ trụ. Một cánh chim cô đơn, lạc lõng giữa bầu trời. Đôi cánh
nhỏ bé như chở cả buổi chiều đang xuống. Hoàng hôn đè nặng lên những
cánh
chim non làm người đọc có cảm giác chỉ cần đôi cánh ấy khẽ chao nghiêng thôi
thì buổi chiều sẽ ập xuống bao trùm cảnh vật. Bóng chiều mông lung trở thành có
hình có khối như có thể cảm nhận được qua đôi cánh nhỏ. Và cánh chim cô đơn ấy
sẽ bay về đâu để thóat khỏi bóng chiều mờ mịt đang đè nặng đôi cánh bé nhỏ của
mình ? Cũng như con người sẽ ra sao trong cuộc sống tù ngục, đen tối của
xã hội lúc bấy giờ ? Và những thế lực đen tối đang đè nặng lên cuộc đời họ
đến khi nào mới chấm dứt ?
Cái
đẹp buồn của thiên nhiên làm nhà thơ liên tưởng đến những số phận bé nhỏ giữa
cái rộng lớn, mênh mông của cuộc đời. Cánh chim nhỏ chính là hình ảnh của số
phận con người trong xã hội cũ. Cánh chim cô đơn chở cả buổi chiều trên đôi
cánh mỏng manh, nhỏ bé. Đó là tấm gương phản chiếu hình ảnh dân tộc phải chịu
cảnh một cổ hai tròng, chở trên vai mình bóng tối của cả đêm dài nô lệ. Sự
tương đồng đó là phát hiện mới mẻ của Huy Cận làm nên nét độc đáo trong phong
cách nhà thơ. Chỉ một cánh chim nhỏ thôi mà có thể nói lên cảnh ngộ của cả một
dân tộc đang đau khổ dưới ách thống trị của kẻ thù. Rồi thi nhân nhìn xa
hơn, tất cả những gì quen thuộc: cồn, làng, sông dài, trời rộng, bến sông, bờ
xanh, bãi vàng…giờ đây sao đìu hiu, cô liêu, lạc lõng, không gợi
được chút niềm thân mật. Phải chăng những cảnh quen thuộc đó
giờ đã rơi vào tay bọn thống trị tàn nhẫn nên hoá ra xa lạ? Phải chăng
đất nước không còn là của nhân dân Việt Nam nữa nên dù sống ngay trên quê
hương, nhà thơ vẫnnhớ nhà, vẫn cảm thấy thiếu quê hương? Có
lẽ vì thế nên nhà thơ cảm thấy lòng dợn dợn đau- một nỗi đau
thấm sâu vào da thịt.
Huy
Cận buồn nhưng thi nhân không tuyệt vọng, không bi quan như một số nhà thơ mới
lúc bấy giờ. Huy Cận vẫn hy vọng và vẫn tin vào cuộc đời. Tuy ván bài
đời may mắn chỉ ù suông, tuy cửa đều đóng kín, nhà thơ vẫn mở
lòng chờ gió mới.
Đã
là ván bài thì có may rủi, thắng thua, có cả sự lọc lừa, giả dối và có đủ
mọi thành phần tham gia. Có kẻ tham vọng chiến thắng, có kẻ tuyệt vọng khi thất
bại, có người hiền kẻ ác, có người chân thật có kẻ lừa lọc…Một người sống lãng
mạn, chân thật như Huy Cận thì ù suôngtrong ván bài cuộc đời đã là
may mắn lắm rồi. Nhà thơ đâu mong mỏi gì chiến thắng vì nó xa vời quá. Khi xã
hội còn lắm kẻ sống vì mình, khép kín cửa lòng, không mang trái tim mình ra
trao đổi, không mang sự chân thành đối xử với nhau thì còn mơ gì đến tình yêu
và hạnh phúc. Thế nhưng, Huy Cận không
buông xuôi , không bỏ
cuộc.
Nhà thơ mong mỏi có một cơn gió mới làm mát lòng người. Cơn gió đó là lý tưởng,
là chân lý, là lối thoát cho mình và cho cả dân tộc. Dùng hình ảnh cơn gió để
đề cập đến một vấn đề mang tính xã hội- chính trị thì quả là độc đáo. Gió là
biểu tượng của sự mền mại, linh hoạt và c ả sức mạnh. Gió làm thay đổi, làmmới
bộ mặt của thiên nhiên. Còn lý tưởng, chân lý sẽ làm mới suy nghĩ và quan niệm
của con người. Đồng thời, tư tưởng là điểm tựa để con người tiến lên. Nhưng ở
đây, cơn gió mới chưa đến và cửa lòng vẫn còn im ỉm đóng. Vì vậy mà nhà thơ
buồn!
Nỗi
buồn của Huy Cận còn hiện hữu ngay trong tình yêu ban sơ, trong sáng. Với Huy
Cận, tình yêu là chuỗi ngày chờ đợi dài đằng đẳng.
Thuở
chờ đợi ôi thời gian rét lắm
Đời
tàn rơi cùng sao rụng canh thâu
Và
trăng lu xế nửa mái tình sầu
Gió
than thở biết mấy lời van vỉ?
(Tình tự)
Rét là cảm giác của cơ
thể do khí hậu lạnh lẽo mang lại. Thế nhưng ở đây, vì chờ đợi vô vọng nên thời
gian cũng đông đặc lại, lạnh giá và rét mướt. Giờ đây, rét không còn là cái lạnh
của thể xác nữa mà đã trở thành cái lạnh của tâm hồn. Cái lạnh của ngoại cảnh
có thể dùng lửa sưởi ấm. Thế còn cái lạnh của lòng người thì lấy gì mà sưởi ấm
được? Sao rụng, trăng lu xế, gió than thở,… không còn là hiện tượng của thiên
nhiên nữa mà tất cả đã hoá thân vào hồn người thành trạng thái của tình cảm.
Đợi người mà người không đến nên tất cả chỉ còn lại nỗi tái tê, lạnh lẽo trong
lòng thi nhân. Nỗi buồn là một trạng thái vô hình nhưng có thể xé nát tâm hồn
người, bóp nát trái tim người.
Qua
tìm hiểu Lửa thiêng, chúng tôi nhận thấy: Hình ảnh trong thơ Huy
Cận được chọn lọc rất kỹ và do vậy mà thơ ông không có hình ảnh thừa, cũng
không có hình ảnh nào bị lu mờ cả. Cảnh vật dù buồn đến đâu vẫn giữ được nét
đẹp riêng của mình. Một vì sao rơi rụng, một vầng trăng lu xế, nửa mái tình
sầu, một tiếng gió thở than, một buổi trưa huyền thoại nhè nhẹ trong ca
dao, một buổi chiều mưa giăng lạnh lẽo…Tất cả những hình ảnh đẹp ấy đều hàm
ẩn cho một tâm trạng buồn bã, cô đơn, quạnh vắng, một tâm hồn luôn chất chứa nỗi sầu
vạn dặm, sầu vũ trụ không bao giờ nguôi cạn.
Sự
cô đơn đã tràn ngập khắp lòng Huy Cận, thi nhân bàng hoàng nhận
ra
mình đã mất thiên đường. Hình ảnh chòi cô độc và
hình ảnh một người lạc lõng, bơ vơgiữa thiên đường hay địa ngục kết
hợp với hình ảnh cô sầu dựng núi lên cao ngất và những
cặp chim hồn lạc hướng bay (Cách xa) càng làm tăng thêm độ đậm đặc của nỗi
buồn, chúng gắn bó, hỗ trợ cho nhau nêu bật lên tâm trạng đơn côi, lưu
lạc, sầu tư đến tột đỉnh. Sầu ở đây chồng chất lên thành núi và những
cánh chim lạc loài không biết bay về phương nào như sự phân vân, mất định hướng
của con người trong xã hội lúc bấy giờ!
Hình
tượng nỗi buồn được khảo sát qua biện pháp tu từ ẩn dụ giúp ta thấy rõ
tính triết lý nhân sinh trong Lửa thiêng của Huy Cận- một Huy
Cận tài hoa và sâu sắc với những nỗi buồn không nguôi: buồn vì khát khao giao
cảm với đời bị cự tuyệt, buồn vì tình yêu không thành, buồn với nỗi
buồn thế hệ, buồn vì quê hương thân yêu bị thực dân Pháp xâm lược tàn
khốc….Bao nhiêu nỗi thương cảm, sầu tư, Huy Cận đều giành cả cho mình. Đó chính
là một tâm hồn lớn! Có lẽ vì thế mà sau này khi tìm thấy ánh sáng của Cách
mạng, chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm đã hăng hái tình
nguyện đi theo tiếng gọi của non sông.
Hình tượng nỗi buồn qua biện pháp nhân hoá
Nhân
hoá là một biện pháp được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày và phổ
biến trong lời nói nghệ thuật. Bởi nhân hoá có chức năng nhận thức và chức năng
biểu cảm- cảm xúc cao. Đồng thời, nhân hoá còn là một hình thức đặc biệt, độc
đáo trong phương thức xây dựng hình tượng.
Nhân
hoá là gì?
“Nhân hoá (còn gọi là nhân cách hoá) là những biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình ».
“Nhân hoá (còn gọi là nhân cách hoá) là những biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình ».
Khảo
sát Lửa thiêng, chúng tôi nhận thấy Huy Cận sử dụng khá nhiều biện
pháp nhân hoá. Biện pháp này đã mang lại hiệu quả tu từ rất cao trong miêu tả
và diễn đạt hình tượng nỗi buồn.
Huy
Cận là một nhà thơ tinh tế, thi nhân bắt gặp cái buồn hiện hữu trong vạn vật.
Song cái buồn vẫn mang nét đẹp rất lãng mạn và để lại ấn tượng nhẹ nhàng, trầm
lắng trong lòng người đọc. Cái đẹp của Lửa thiêng ủ mầm nơi
quán vắng đèo cao, nơi sông dài trời rộng, nơi vườn hoang trinh nữ…Thế giới Lửa
thiêng là thế giới của những tưởng vọng về quá khứ và thế giới của
những trăn trở nội tâm. Quay về quá khứ không phải để trốn tránh thực tại mà là
để chiêm nghiệm về thực tại, về những gì đã xảy ra trong thời đại mình đang
sống. Đó cũng là sự phản ứng lại với xã hội lúc bấy giờ.
Hỡi
mây trắng, hỡi nước buồn, gió cũ!
Sao
chiều nay ảo não vị sơ xưa?
Cho
ta gởi vọng xuôi về quá khứ,
Đôi
chút sầu tư nước đẩy, mây đưa.
(Bi ca)
Nỗi
lòng không biết ngỏ cùng ai, bởi nhân thế không còn ai là bè bạn. Thế nên Huy
Cận gọi nước buồn, gió cũ, gọi mây trắng về tâm sự. Vì đời người hữu hạn và mỗi
tâm hồn là một ốc đảo cô đơn và phức tạp, khó tìm được sự giao hoà từ tâm hồn
khác. Còn thiên nhiên thì trường tồn và có thể trở thành tri âm tri kỉ để thi
nhân san sẻ nỗi lòng. Mây trắng, dòng nước và cơn gió sẽ ngàn năm còn mãi. Thiên
nhiên như một người bạn tâm đầu biết lắng nghe tâm sự của thi sĩ. Thiên nhiên
cũng buồn khi con người buồn và xót xa nhìn thấy nụ cười trên môi người héo
hắt. Người buồn nên mây trắng cũng buồn, gió cũ cũng ảo não. Huy Cận đã gởi tâm
sự cho nước, cho mây. Lời than thở của thi nhân nghe buồn quá.
Buồn
đã lại khi bắt đầu yêu mến
Lòng
say mê ngay từ thuở mê tình.
(Bi ca)
Rõ
ràng ta thấy Huy Cận có hướng về thực tại, cố gắng bước để bắt kịp nhịp đời.
Thi nhân vẫn yêu và yêu rất thiết tha. Song thực tế phũ phàng, không tốt đẹp
như mong đợi mà chỉ gieo rắc nỗi buồn. Ta thấy, sợi buồn giăng mắc khắp nơi
trong Lửa thiêng, trong lòng Huy Cận và cả trong lòng ta nữa!
Có
thể bắt gặp trong chiều sâu của cảm xúc về thiên nhiên, về quá khứ là tình cảm
với đất nước. Tuy không rõ rệt và hiện hình một
đất nước trong
Lửa
thiêng nhưng
ta vẫn thấy bàng bạc trong thơ là tấm lòng thi nhân đối với quê hương khi người
tâm sự với thiên nhiên, khi tủi buồn, thương nhớ cảnh cũ người xưa. Ngược dòng
thời gian, tác giả đã tìm đến hồn thiêng sông núi
và
vóc
dáng quê hương. Quá khứ trong Lửa thiêng là thời gian trải dài
và ngưng động ở bến sơ xưa, ở dòng sông tiền sử. Huy Cận đã
quay về với quá khứ xa xưa như tìm về miền đất hứa của niềm giao cảm. Ở nơi ấy,
thiên nhiên sẽ hiểu và chia sẻ tâm sự với con người. Điều đáng trân trọng ở Huy
Cận là nhà thơ không chỉ nghĩ đến nỗi buồn và sự cô đơn của riêng mình mà nghĩ
cho tất cả mọi người. Thế nên, thơ Huy Cận có buồn thật nhưng thanh thoát và
tìm được những tâm hồn đồng vọng. Đó chính là điều tạo nên những khác biệt giữa
thơ Huy Cận với những bài thơ buồn hoài cổ khác phổ biến lúc bấy giờ.
Huy
Cận sớm nhận ra bản chất của cuộc đời cũ, ở đấy tình yêu chỉ là ảo vọng và hạnh
phúc là cái không thể với tới.
Quá
cô đơn, nhà thơ gọi buổi chiều xuống để cùng người trút niềm tâm sự.
Chiều
ơi! Hãy xuống thăm ta với!
Thiên
hạ lìa xa, đời trống không.
Nắng
xế ngậm ngùi bên mái cũ
Đìu
hiu bên phố, nhớ bên lòng.
(Tâm sự)
Chiều giờ đây không còn là
khoảnh khắc của chuỗi dài thời gian mà là một nhân vật trữ tình biết lắng nghe,
chia sẻ. Thiên hạ lìa xa rồi, không có ai san sẻ nỗi lòng. Thế nên nhà thơ trò
chuyện với chiều. Và chiều cũng đồng cảm với
thi nhân, nên nắng xế ngậm ngùi bên mái cũ.Nhà thơ buồn và chiều cũng
buồn. Chiều đã trở thành người bạn tri âm tri kỉ.
Ta
biết quen chiều tự thuở xưa
Tim
nghe xa vắng rộng không bờ
Một
ngày trời đẹp bâng khuâng quá
Ấy
buổi đầu tiên bạn bút tờ.
………
Một
mình cũng muốn câu tâm sự
Chiều
xuống cùng ta đặng có nhau…
(Tâm
sự)
Có
bạn rồi Huy Cận có vơi đi chút buồn nào không ? Rõ ràng, dù có
trút
cạn bầu tâm sự nhưng nỗi buồn vẫn còn đấy, những trăn
trở, suy tư vẫn
còn
đấy. Thế nên, nhà thơ nghe hồn mình lạnh giá nỗi cô đơn.
Một
buổi xưa kia phòng vắng bạn
Đó
ngày quen biết với cô đơn.
(Tâm
sự).
Tuy
đã làm bạn với thiên nhiên, với thời gian nhưng tâm hồn nhạy cảm của Huy Cận
vẫn còn phấp phổng lo sợ. Thi nhân sợ mây nước,gió trăng quên lãng mình.
Chàng
Huy Cận khi xưa hay sầu lắm,
Gió
trăng ơi! nay còn nhớ người chăng ?
Hơn
một lần chàng đã gởi cho trăng
Nỗi
hiu quạnh của hồn buồn không cớ.
(Mai sau)
Sợ
người khác quên sự hiện diện của mình, đó là tâm lý chung của con người,nhưng
sợ cả những sự vật, hiện tượng vô tri vô giác quên lãng mình, dường như chỉ co
mỗi mình Huy Cận. Ở đây, ta thấy Huy Cận đã xem không gian, thời gian là những
vật có cảm giác và suy nghĩ như con người. Thế nên,chàng đã gởi cho trăng nỗi
hiu quạnh của lòng mình, gởi những nỗi buồn ảo não và gởi cả tình yêu thiết
tha, chân thành. Ta nghe trong gió tiếng thở dài của Huy Cận, nghe trong mưa
tiếng khóc của chàng dành cho dân tộc. Lòng chàng vẫn hay tủi nắng sầu mưa, vẫn
không nguôi tình yêu nhân thế.
Đối
với con người, thời gian và thiên nhiên là nhưng vật vô tri vô giác, nhưng đối
với Huy Cận, thiên nhiên và thời gian chính là bạn và chúng không hề vô tình.
Gió mây, trăng sao, dòng nước, chim chóc đều có tình.
Cơn
gió hiu hiu buồn tiễn biệt
Xa
nhau chỉ biết nhớ vơi ngày.
(Vạn lí tình)
Rõ
ràng không chỉ có người biết buồn mà
gió cũng biết buồn trước
những
cảnh chia li, cách biệt. Không chỉ có người biết nhớ mà gió cũng biết nhớ. Vì
buồn và nhớ nên gió mới thở than,gió mới bay đi tìm bạn. Đôi mắt Huy Cận nhìn
đâu cũng thấy vạn vật hữu tình. Đó chính là nét
đặc sắc riêng
của
nhà thơ. Nếu cho rằng Huy Cận là chàng thi sĩ của thiên nhiên, của trời đất thì
cũng không sai!
Thơ
Huy Cận bàng bạc hình ảnh của thời gian và không gian. Cây với người xưa có lẽ
láng giềng, đem một vật vô tri đặt cạnh một cái có hồn để nói lên sự gắn bó của
con người và thiên nhiên. Đồng thời qua thiên nhiên, Huy Cận bộc lộ tư tưởng và
tình cảm của mình. Ở đây, thiên nhiên và con người đã hòa làm một, con người
như tìm thấy một nửa còn lại của mình trong sự sống của thiên nhiên và thiên
nhiên cũng giúp con người giải tỏa nỗi ưu phiền.
Thời
gian, không gian như cứu cánh, như phương tiện đưa hồn thi nhân thoát khỏi sự
khắc nghiệt và ngột ngạt của xã hội. Không gian, thời gian mở ra những chân
trời mới cho Huy Cận và chấp đôi cánh cho thơ vượt qua những giới hạn thông
thường, tạo nên sức lay động và ấn tượng đẹp trong lòng người đọc. Người bạn
thơ của Huy Cận thường là mây, nước, gió, trăng….và buổi chiều. Buổi chiều la
khoảng thời gian gợi lên nhiều nỗi buồn nhất. Thông thường, người ta buồn thì
tìm đến những người bạn có cùng tâm trạng hoặc ít ra cũng có một sự đồng cảm
nào đó. Chẳng ai mang tâm trạng buồn tâm sự với người đang vui, và ngược lại
khi ta vui không bao giờ ta san sẻ với người đang buồn.Cho nên, Huy Cận đã tìm
sự đồng vọng ở người bạn có cùng nỗi lòng. Đó là chiều!
Chiều
lại xuống ở trên lầu cô tịch
Chờ
thi nhân đã chết tự ngàn xưa
Nói
chuyện cùng- chiều không nắng không mưa
Không
sương khói, chỉ có sầu vạn thưở.
Đời
hiu quạnh, thời gian nghiêng bóng nhớ
Phố
không cây thôi sầu biết bao chừng
Chỉ
mơ hồ trùng điệp với mông lung,
Buồn
vạn lớp trên mái nhà dợn sóng.
(Trò chuyện)
Dòng
tâm trạng với lớp lớp sóng buồn khiến thi nhân cảm thấy
bơ vơ
giữa
thời gian và không gian vô tận. Huy Cận trò chuyện với chiều
và với thi nhân đã chết tự ngàn xưa. Lúc này nhà thơ đang tưởng
niệm về quá khứ- một quá khứ đẹp và yên bình. Ở nơi đó, con người
sống hòa đồng với thời gian,
không
gian và con người. Chiều lại xuống ở trên lầu cô tịch, dường như chiều
xuống đã trở thành một thông lệ, một lời hẹn ước và chiều đã
xuống không chỉ một vài lần. Chiều xuống đểtrò chuyện cùng
Huy Cận và các thi sĩ ngàn xưa, để cởi bỏ hết những bức bối trong lòng, để trút
cạn dòng tâm sự. Khi chiều xuống không có nắng cũng không có
mưa, không có sương khói chỉ có sầu vạn thuở. Chiều không
mang gì đến, chỉ có nỗi sầu thiên cổ để góp thêm nỗi buồn đã đầy ắp trong lòng
thi nhân. Không gian hoang sơ như ở thời tiền sử, lặng vắng và êm ả. Không chỉ
mỗi mình Huy Cận tưởng vọng về quá khứ đẹp đẽ đã qua mà thời gian cũngnghiêng
bóng nhớ. Dường như thiên nhiên và buổi chiều có một sự đồng cảm rất sâu
sắc. Dù cô đơn giữa loài người nhưng Huy Cận cũng tìm được một người bạn có thể
sẻ chia tâm sự. Đó là điều an ủi cuối cùng còn sót lại và chắc hẳn Huy Cận cũng
hài lòng vì điều đó.
Trong Lửa
thiêng, Huy Cận đã có 40 lần nhắc đến buổi chiều: chiều tê cúi đầu,
chiều mồ côi, chiều vĩnh biệt, chiều tận thế…, chứng tỏ chiều có
một vị trí đặc biệt trong lòng thi nhân. Chiềulà người bạn không
thể thiếu của nhà thơ và là hình tượng độc đáo trong thơ.
“Nhạy
cảm với buổi chiều cũng là nhạy cảm trước nỗi buồn bã cô đơn của con người,
đồng thời cũng thể hiện sự thất vọng của con người trước thức tại. Thế giới
nghệ thuật của Lửa thiêng đã góp phần bộc lộ niềm khát vọng lớn và nỗi thất
vọng lớn của Huy Cận. Khát vọng lớn là khát vọng bất tử cùng thời gian, khát
vọng tìm kiếm hạnh phúc trong thời quá khứ,trong sự hòa đồng với thiên nhiên và
nhân loại. Nhưng Huy Cận đã thất vọng vì càng xuôi về quá khứ nhà thơ càng cô
đơn để cuối cùng chợt nhận ra tình trạng bơ vơ của mình trên con đường thời
gian vô tận” [25;296].
Không
chỉ trò chuyện với chiều, Huy Cận còn trò
chuyện với thi sĩ ngàn xưa và ngưỡng mộ cuộc sống an bình, vui vẻ và
hạnh phúc của tiền nhân. Đó là cách phủ nhận thực tại tối tăm của nhà thơ Huy
Cận.
Còn
trong tình yêu, chẳng mấy khi ta thấy Huy Cận vui. Tình yêu lãng mạn, dịu dàng,
đằm thắm nhưng cũng lắm nỗi ngậm ngùi, thương đau.
Ngủ
đi em, mộng bình thường!
Ru
em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…
Cây
dài bóng xế ngẩn ngơ
-
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
(Ngậm ngùi)
Bốn
câu thơ mở ra một không gian tâm tưởng dịu êm,man mác ngậm ngùi, thể hiện tâm
trạng xót xa thương cảm và da diết yêu thương của Huy Cận. Nhà thơ mong người
yêu ngủ ngon với giấc mộng bình yên và đẹp đẽ. Tiếng thùy dương du dương đưa em
vào giấc ngủ an lành. Thùy dương trở thành người bạn hát ra em ngủ và xua đi
những đau thương đã làm em buồn lòng. Ngủ đi em và hãy mộng bình thường, cây
dài cũng phải ngẩn ngơ nhìn em ngủ. Những xót xa của ngày tháng cũ rồi cũng sẽ
qua để trả lại cho em chuỗi ngày bình yên sắp tới. Chỉ riêng mình anh nghe nặng
trái sầu rụng rơi,còn em hãy cứ vô tư, yên vui và hạnh phúc. Đó là điều Huy Cận
mong mỏi, ước ao!
Hình
tượng nỗi buồn ở đây cứ như sương khói vấn vương, như tơ trời giăng mắc, như
cõi mộng huyền ảo xa xăm. Song, đó cũng là hình tượng rất thực như cây ngẩn ngơ
đổ bóng dài, như hàng thùy dương ngân nga hát. Cây và bóng đều buồn đến ngẩn
ngơ, hàng thùy dương biết ru và an ủi. Tất cả đều buồn nhưng rất đẹp,vì ở đấy
có tình yêu.Tình yêu chính là thơ, là nhạc của cuộc sống, là đôi cánh chở ước
mơ đi thật xa trên vùng trời bình yên hạnh phúc. Và dù có ngậm ngùi thương
đau,tình yêu ấy vẫn đẹp và vẫn là khát vọng ngàn đời của con người. Ta bắt gặp
trong Ngậm ngùi của Huy Cận một chút gì đó là của mình. Đó chính là sự đồng
vọng của tâm hồn! Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã có lần tâm sự:
“Bài
thơ hay làm cho người ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người.
Quên rằng đó là tiếng nói của ai, người ta cảm thấy nó như tiếng ca từ trong
lòng mình, như là của mình vậy.Thơ là tiếng nói tri âm” [26;201].
Có
thể nói, Huy Cận là một trong số rất ít những nhà thơ có sự nhạy cảm đặc biệt
và có sự cảm nhận một cách sâu sắc bước chuyển mình của thiên nhiên. Và qua
biện pháp nhân hóa, Huy Cận đã làm cho hình tượng nỗi buồn vừa đa
dạng vừa thể hiện cá tính sáng tạo rất độc đáo của nhà thơ. Đó là một trong
những đặc điểm làm nên phong cách riêng của tác giả Lửa thiêng!
Hình tượng nỗi buồn qua biện pháp hoán dụ tu từ
Nghiên
cứu Lửa thiêng, chúng tôi thấy cần phải đề cập đến một hình thức
xây dựng hình tượng rất thành công. Đó là hoán dụ tu từ.
Vậy
hoán dụ tu từ là gì ?
“Hoán
dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu
biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó” .
« Hoán
dụ tu từ là hoán dụ thực hiện hoá mối quan hệ mới mẻ, bất ngờ giữa hai khách
thể »
Hoán
dụ tu từ sẽ giúp chúng ta thấy được cái hay, cái đẹp của hình tượng, vì chức
năng của hoán dụ tu từ là nhận thức và biểu cảm- cảm xúc. Nó còn có khả năng
khắc sâu đặc điểm tiêu biểu cho đối tượng được miêu tả.
Lửa
thiêng là
một bức tranh giàu màu sắc, đường nét và rất sống động. Trong đó màu chủ đạo chi
phối tất cả chính là màu của tâm tưởng, của nỗi buồn. Màu sắc ấy lan tỏa trên
toàn hình tượng, để khi ngắm nhìn, chúng ta sẽ cảm nghe được một nỗi buồn man
mác len nhẹ vào hồn mình. Tạo hóa sinh ra nhân loại, ban cho con người thân thể
để tồn tại và linh hồn để yêu thương:
Người
đã cho những bàn tay hoa nở
Những
chân cây, chồi mạnh búp tơ măng.
(Thân thể)
Hoa là biểu tượng
của cái đẹp, là tặng phẩm độc đáo của thiên nhiên dành cho con người. Búp
tơ măng là biểu hiện của sự tươi trẻ, non tơ. Hai câu thơ làm nổi bật
hình tượng con người trẻ trung, xinh đẹp và khoẻ khoắn. Con người chính là kỳ
công độc đáo mà Thượng đế tạo nên. Vẻ đẹp của con người được ví với hoa, với
chồi mạnh tươi tắn, với những gì tinh tuý nhất của thiên nhiên. Con người là
một phần của thiên nhiên, đồng thời là chủ nhân quản lý thế giới này. Bằng sức
mạnh và trí tuệ, con người luôn vươn tới những gì cao đẹp nhất.
Thế
nhưng, khi vừa chào đời, con người đã phải nhận ngay vào những giọt nước mắt
đau thương đầu tiên. Miệng bao giờ buông nhả vú chua cay, triết lý
nhân sinh ấy tồn tại hàng nghìn năm nhưng không phải ai cũng hiểu được. Mà
không hiểu được thì không buồn. Còn đã nhận ra thì không thể làm
ngơ,
và vì không thể làm ngơ trước thực trạng đó nên Huy Cận thấy rõ hơn ai hết nỗi
buồn nhân thế. Người ta ai cũng biết cuộc đời là con đường không bằng phẳng và
đầy rẫy chông gai. Thế nhưng, họ không thể không tiến bước vì sự sinh tồn của
bản thân. Biết rằng cuộc đời có đủ vị đắng cay, thế mà chẳng ai tránh được. Đó
là quy luật, mà đã là quy luật thì trốn tránh làm gì!
Lòng
Huy Cận đẹp, thi nhân cũng không thở than vì sự thiếu thốn vật chất tầm thường.
Nhưng sự chật vật đời thường đôi khi làm con người mệt mỏi.
Đôi
guốc năm hiên kéo bốn mùa
Tiền
nhà ít gởi biết chi mua
Áo
dài cọ mãi đôi tay rách
Gương
lược thăm hoài tóc ngắn thưa.
(Học sinh)
Cuộc
sống vật chất của người nghệ sĩ trong xã hội cũ rất thiếu thốn, nhưng tâm hồn
họ thì luôn dạt dào yêu thương. Thi nhân nhìn đâu cũng thấy nét thơ mộng, lãng
mạn. Và nỗi buồn chẳng qua là sự biểu hiện ngược của lòng yêu đời và khát khao
hòa nhập vào cuộc sống. Lòng họ đẹp, họ cũng có lý tưởng sống, nhưng họ lại đầu
thai nhầm thế kỷ (Vũ Hoàng Chương), nên họ khó mà thực hiện hiện được
lý tưởng của mình. Vì thế, họ cảm thấy xót xa, cảm thấy bơ vơ lạc loài giữa thế
giới ồn ào xung quanh. Dù vẫn biết lòng mới nở giữa tay đời ấm ápnhưng
bởi cuộc đời ghẻ lạnh, thiên hạ lìa xa nên:
Những
bàn tay đáng lẽ phải giao nhau
Hờ
hững thế! Không chịu cầm lưu luyến.
(Tình mất)
Những
bàn tay giao nhau thể hiện sự giao lưu, thân thiết, gắn bó trong tình cảm. Một
cái nắm tay có sức mạnh hơn cả ngàn lời nói. Nó truyền cái ấm áp của sự sẻ
chia, cái nét đẹp văn hoá và đạo đức của từng người. Bàn tay có thể dìu ta bước
tiếp trên đường đời, nâng ta dậy khi ta gục ngã. Bàn tay giao nhau là sự biểu
lộ tình cảm của người và người, là sức mạnh giúp ta vươn lên những điều tốt đẹp
để đạt được ước mơ, hoài bão. Thế mà ở đây, những bàn tay ấy lại hờ hững,
không chịu cầm lưu luyến. Điều đó làm cho thi nhân buồn
và xót xa!
Cuộc
đời đầy may rủi và ván bài đời may mắn chỉ ù suông, thế mà con
người còn tránh nhau để xa thêm:
Chân
xa mau, lòng chưa kịp giao thân.
(Tình mất)
Thôi
đã tan rồi vạn gót hương
Của
người đẹp tới tự trăm phương
Tan
rồi những bước không hò hẹn
Đã
bước trùng nhau một ngả đường.
(Dấu chân trên đường)
Nên
chân đi chưa định ngày nghỉ bước
Đường
không dài; người tránh để thêm xa.
(Cầu khẩn)
Những
bước chân trùng nhau trên một ngã đường là sự ngẫu nhiên, song Huy Cận quan
niệm rằng phải có duyên mới gặp được nhau. Đó là sự sắp đặt của số mệnh. Trên
muôn nẻo đường đời, có những người ta không bao giờ gặp mặt vì ta và họ không
có duyên. Thế thì tại sao những người có duyên kì ngộ mà lại hờ hững để những
bước chân gặp nhau trở nên vô nghĩa. Huy Cận coi đó là điều đáng buồn.
Đời
người hữu hạn và con đường họ đi cũng phải có điểm dừng vì đường không
dài vậy thì tại sao phải tránh nhau để thêm xa? Ý thức sâu sắc triết
lí nhân sinh về sự hữu hạn của đời người nhưng Huy Cận bất lực vì không thể rút
ngắn khoảng cách giữa mọi người. Thà là vô tình chứ một khi đã ý thức rõ mà
không làm gì được, thi nhân cảm thấy bức bối và khổ tâm!
Mang
trái tim cô đơn đi giữa biển người, Huy Cận buồn vì đôi tay không tín
mộ- chỉ lạc hướng thiên đường (Ê chề). Và vì cô độc giữa
cuộc đời nên Huy Cận mang một nỗi sầu trĩu nặng, mênh mang với những suy tư,
khắc khoải. Nỗi buồn ấy triền miên kéo dài vượt cả biên giới không gian, lan
tỏa , mở rộng cả biên độ thời gian . Đó chính là
nỗi buồn của một chiếc linh hồn
nhỏ-
mang mang thiên cổ sầu. Nhà thơ Bùi Giáng đã nhận xét về Huy Cận như sau: “…Nguồn
thơ buồn nhất Việt Nam là nơi Huy Cận…Huy Cận đã sống trọn vẹn với linh hồn
nhân gian. Nguồn thơ ông chảy khắp mạt buồn vui nhân thế” .
Trong
một xã hội bất công đầy rẫy nhiễu nhương, Huy Cận đã phản ứng lại bằng nỗi
buồn,bằng sự thất vọng của mình và của thế hệ mình. Huy Cận nhạy cảm, tinh
tế cảm nhận những âm thanh rất nhẹ , rất khẽ của cuộc sống.
Nghe
đi rời rạc trong hồn
Những
chân xa vắng dặm mòn lẻ loi.
(Buồn đêm mưa)
Huy
Cận nghe mưa hay nghe nỗi buồn lắng đọng vào hồn? Nghe tiếng bước chân cô độc
trên con đường vắng vẻ hay nghe hồn mình đìu hiu? Chắc chắn một điều là Huy Cận
không chỉ đơn thuần nghe hiện tượng thiên nhiên đang diễn ra, mà ẩn chứa trong
đó là tất cả bùi ngùi, nghẹn ngào của nỗi buồn mang mang thiên cổ, của những kẻ
mất thiên đường.
Ta
nghe trong Lửa thiêng của Huy Cận tiếng thở dài ảo não. Nhà
thơ tìm đến những lời đồng vọng, tìm sự đồng cảm của người đời. Song, muốn
người khác đồng cảm với mình thì trước tiên nhà thơ phải đồng cảm với mọi
người. Đó là điều hiển nhiên! Và ta đã nghe tiếng nức nở nghẹn ngào, cố kiềm
lại của thi nhân khi chứng kiến chuyến xe cuối cùng của cuộc đời tiễn đưa linh
hồn về thế giới vô biên. Hình tượng nỗi buồn giờ đây có nguyên nhân là cái chết
của thể xác lẫn tâm hồn.
Chân
quấn quýt rồi đến ngày nghỉ bước
Miệng
trao thơ rồi đến buổi làm thinh;
Thân
có đôi chờ lúc ngủ một mình
Không
bạn lứa cũng không mền ấm nóng;
Tai
dưới đất để nghe chừng tiếng sống
Ở
trên đời: – Đầu ấy ngẩng lên cao
Sẽ
nằm im! Ôi đau đớn chừng nào;
Thân
bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí
Một
dáng điệu suốt trăm nghìn thế kỉ.
(Chết)
Huy
Cận đã dùng các bộ phận của cơ thể để nói về con người. Những bước chân
quấn quýtnhanh nhẹn thể hiện sự năng động, vững chãi, nhưng cũng phải có ngày
nghỉ bước không còn vận động được nữa. Đôi môi duyên dáng nói những
lời hay ý đẹp, bày tỏ tình cảm – cảm xúc, những yêu ghét giận
hờn
trong cuộc đời qua ngôn ngữ, qua âm thanh trong trẻo nhẹ nhàng, nhưng cũng có
lúc phải làm thinh, không bao giờ trao lời được
nữa. Đó là ngày con
người
rời bỏ trần thế để đến với một thế giới khác lạnh lẽo và cô đơn, không
bạn lứa cũng không mền ấm nóng. Chuyến xe cuối cùng của cuộc đời đưa con
người về lòng đất, mang theo bao tiếc thương, bao giọt nước mắt của người ở
lại. Đó là chuyến xe buồn nhất trong đời người mà ai cũng phải đi qua. Đọc
những câu thơ trên chúng ta nghe một sự cảm thông sâu sắc của Huy Cận đối với
người đã khuất. Và chúng ta cũng thế, cũng nghe tim mình đau thắt lại. Còn gì
buồn hơn khi thân bay nhảy giữa thế gian giờ lại bị
giam trong mồ nhỏ tí. Ôi đau đớn chừng nào! Huy Cận cảm thương
cho sự hữu hạn của con người và đã truyền cho ta sức mạnh của sự cảm thương.
Vì
cảm nhận được sự hữu hạn của kiếp nhân sinh nên Huy Cận cảm thấy xót xa cho
người đời. Thi nhân đã đem tấm lòng mình trao tặng mọi người. Và chúng ta
tin rằng, tấm lòng của thi nhân sẽ được mọi người đồng cảm và trân trọng!
Biện
pháp hoán dụ tu từ xuất hiện trong Lửa thiêng không nhiều bằng
ẩn dụ tu từ nhưng nó cũng góp một phần rất lớn vào phương thức xây dựng hình
tượng nỗi buồn. Nó làm cho nỗi buồn không còn là một trạng thái tâm lý trừu
tượng mà hết sức sống động, đặc sắc và rất riêng. Nó góp phần làm nên phong
cách thơ Huy Cận- một phong cách thơ hết sức độc đáo và lãng mạn buồn.
Với
Huy Cận “cái sầu là chặng dài nhất của đời người, cũng là cái phần sâu nhất
của con người”, “cái sầu vây hãm con người như thiên la địa võng vô hình…” .
Trong tập Hồi kí song đôi, thi nhân cũng thừa nhận: “Trong buổi
thanh niên, tôi hay buồn, sầu vô cớ”. “Cảnh tâm lý trong nhà khi nào cũng âm u,
chỉ nắng héo với sương mù, chỉ có hắt hiu, chỉ có lạnh tẻ. Có lẽ vì sống trong
cảnh ấy ngày nhỏ nên sau này, vào tuổi thiếu niên, thanh niên, tôi mới hay
buồn, hay sầu não về cuộc đời đó chăng?” [Trích Hồi kí song đôi].
Đó
cũng là điều dễ hiểu! Trong buổi giao thời ngày ấy, bao nhiêu cái xấu đều có
dịp phơi bày, hỏi ai chẳng xót xa, đau đớn! Nhất là đối với một người nhạy cảm
như Huy Cận thì nỗi buồn ấy càng được nhân lên gấp bội và lan toả khắp không
gian, xuyên cả bức tường thành thời gian để trở về muôn ngàn năm trước!
Nghiên cứu hình tượng thơ là hướng tiếp cận đúng đắn đối với người nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học. Hình tượng cũng là phương tiện phổ biến nhất giúp tác giả bộc lộ nỗi lòng và tư tưởng về một khía cạnh, một vấn đề mang tính thời đại trong xã hội mình đang sống. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy nét chủ đạo trong Lửa thiêng là hình tượng nỗi buồn.
Nghiên cứu hình tượng thơ là hướng tiếp cận đúng đắn đối với người nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học. Hình tượng cũng là phương tiện phổ biến nhất giúp tác giả bộc lộ nỗi lòng và tư tưởng về một khía cạnh, một vấn đề mang tính thời đại trong xã hội mình đang sống. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy nét chủ đạo trong Lửa thiêng là hình tượng nỗi buồn.
Nghiên
cứu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận sẽ giúp
chúng ta hiểu sâu sắc những tư tưởng, tình cảm, quan niệm…của nhà thơ. Qua Lửa
thiêng, Huy Cận đã nói lên tâm trạng chung của tầng lớp trí thức tiểu tư
sản. Đó là tâm trạng buồn bã, thất vọng và bất lực trước thực tại.
Huy
Cận là nhà thơ có nhiều tác phẩm giảng dạy ở trường phổ thông. Thế nên, nghiên
cứu hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận sẽ cung
cấp cho người viết vốn kiến thức nhất định về thơ cũng như phong cách thơ đặc
biệt, độc đáo của nhà thơ lãng mạn này, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy
sau này.
Huy Cận đã trải
qua một chặng đường lao động nghệ thuật hơn sáu thập kỉ và đã có những đóng góp
to lớn cho nền văn học nước nhà. Tập thơ Lửa thiêng đã giúp
cho Huy Cận khẳng định vị trí của mình trong phong trào Thơ mới. Có thể nói,
tuy là tập thơ đầu tay nhưng Lửa thiêng đã làm nổi bật tài
năng thơ của Huy Cận và góp phần làm rạng rỡ, phong phú cho văn học Việt Nam
hiện đại. Lửa thiêng chính là ngọn lửa sáng chói nhất trong
đời Huy Cận và sẽ còn sáng mãi trong lòng độc giả bao thế hệ.
Qua Lửa
thiêng, chúng tôi nhận thấy rằng Huy Cận là nhà thơ của tình người,
tình đời và tình yêu sự sống. Trong suốt tập thơ, ta thấy thi nhân luôn khắc
khoải về số phận con người trong xã hội, về vận mệnh của non sông, đất nước.
Đồng thời, nhà thơ luôn mở rộng lòng mình để giao cảm, giao hòa với cuộc đời.
Đó là một nhà thơ có một tấm lòng rất đáng quí và đáng trân trọng!
Thơ Huy Cận buồn
nhưng không hề tuyệt vọng, không đánh mất niềm tin vào con người,vào cuộc đời.
Nỗi buồn của Huy Cận không phải là nỗi buồn của một cá nhân mà là cái buồn
chung của thế hệ, của dân tộc. Nhà thơ đại diện cho dân tộc mình cất lên lời tố
cáo kín đáo xã hội thực dân, ngột ngạt, đen tối đã mang đến bao cảnh bất công ,
đau khổ cho con người. Lẫn tránh là
ủy
mị, yếu đuối và cũng không thể giải quyết được vấn đề gì, nên Huy Cận đã
không
trốn tránh mà đối diện với thực tại, đối diện với nỗi buồn luôn cào xé tâm hồn
nhà thơ. Tiếng khóc của Huy Cận là lời đồng vọng dành cho con người trong thực
tại, đó là tiếng khóc mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Để miêu tả và diễn
đạt thành công hình tượng nỗi buồn, Huy Cận đã sử dụng nhuần nhuyễn các phương
tiện chuyển nghĩa trong Lửa thiêng. Đó là các biện pháp: so sánh,
nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ. Qua đó, chúng ta có thể thấy được sự tinh tế trong
cảm nhận và tài hoa trong quá trình sáng tạo nghệ thuật cuả thi nhân. Ngoài ra,
nét đặc sắc và độc đáo trong phong cách Huy Cận còn thể hiện ở chỗ lồng ẩn
trong Lửa thiêng là những triết lý mang ý nghĩa nhân sinh sâu
sắc.
Nghiên
cứu hình tượng nỗi buồn qua tập thơ đầu tay của Huy Cận, chúng tôi hy vọng với
vốn kiến thức có được sẽ giúp cho học sinh của mình trong tương lai sẽ càng yêu
và thích thú hơn với văn chương, để các em thấy thú vị khi học văn và không còn
cảm giác đó là một môn học tẻ nhạt.
Trên cơ sở tìm hiểu Hình tượng nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận,
chúng tôi thấy hướng tiếp cận này còn có thể mở ra theo các hướng sau nếu chúng
tôi có dịp trở lại nghiên cứu đề tài này:
Thứ
nhất, tiếp tục nghiên cứu toàn diện hình tượng nỗi buồn qua tất cả các biện pháp
nghệ thuật, các phương tiện ngôn ngữ trong tập thơ Lửa thiêng của
Huy Cận.
Thứ
hai, nghiên cứu hình tượng nỗi buồn một cách toàn diện trong sự nghiệp sáng tác
của nhà thơ Huy Cận.
Thứ ba, nghiên cứu hình tượng nỗi buồn một cách có hệ thống và toàn diện trong thơ ca lãng mạn Việt Nam giai đọan 1932-1945.
Thứ ba, nghiên cứu hình tượng nỗi buồn một cách có hệ thống và toàn diện trong thơ ca lãng mạn Việt Nam giai đọan 1932-1945.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét