Truyện Kiều của Nguyễn Du
với sự tiếp biến các hệ tư tưởng
Đàm
Thị Ngọc Thúy
1. Vấn đề tư tưởng của
tác phẩm văn học:
Nội dung của tác phẩm
văn học gồm hai bình diện: nội dung trực tiếp và nội dung tư tưởng.
Nội dung trực tiếp còn gọi là nội dung hiện thực, đó là bức tranh hiện thực mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm của mình.Nội dung tư tưởng gắn liền với những đánh giá của tác giả. Đây là nội dung quan trọng nhất vì nội dung hiện
thực có ý nghĩa khi nó gắn liền với một tư tưởng một đánh giá nào đó.
Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng thể hiện một thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả. Tư tưởng của tác phẩm là sự lí giải, sự đánh giá, sự thể hiện tư tưởng – tình cảm đối với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, được miêu tả trong tác phẩm, là sự giải quyết vấn đề theo khuynh hướng tư tưởng – thẩm mĩ nhất định.
Trong các yếu tố cấu thành nội dung tư tưởng của tác phẩm (đề tài, chủ đề, tư tưởng) thì tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất. Vì nó là linh hồn của tác phẩm, quy định chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm. Tư tưởng của tác phẩm chịu sự chi phối của ý thức hệ tư tưởng của nhà văn. Tuy nhiên, tư tưởng tác phẩm không phải là sự chuyển dịch cứng nhắc, giáo điều tư tưởng, ý thức hệ của cá nhân nghệ sĩ, của giai cấp, của thời đại vào tác phẩm mà nó được thể hiện một cách sống động trong từng yếu tố cấu thành của tác phẩm. Biêlinxki từng nói: “Trong tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hoà trong chúng như ánh sáng chan hoà trong pha lê”.
Nội dung trực tiếp còn gọi là nội dung hiện thực, đó là bức tranh hiện thực mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm của mình.Nội dung tư tưởng gắn liền với những đánh giá của tác giả. Đây là nội dung quan trọng nhất vì nội dung hiện
thực có ý nghĩa khi nó gắn liền với một tư tưởng một đánh giá nào đó.
Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng thể hiện một thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả. Tư tưởng của tác phẩm là sự lí giải, sự đánh giá, sự thể hiện tư tưởng – tình cảm đối với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, được miêu tả trong tác phẩm, là sự giải quyết vấn đề theo khuynh hướng tư tưởng – thẩm mĩ nhất định.
Trong các yếu tố cấu thành nội dung tư tưởng của tác phẩm (đề tài, chủ đề, tư tưởng) thì tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất. Vì nó là linh hồn của tác phẩm, quy định chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm. Tư tưởng của tác phẩm chịu sự chi phối của ý thức hệ tư tưởng của nhà văn. Tuy nhiên, tư tưởng tác phẩm không phải là sự chuyển dịch cứng nhắc, giáo điều tư tưởng, ý thức hệ của cá nhân nghệ sĩ, của giai cấp, của thời đại vào tác phẩm mà nó được thể hiện một cách sống động trong từng yếu tố cấu thành của tác phẩm. Biêlinxki từng nói: “Trong tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hoà trong chúng như ánh sáng chan hoà trong pha lê”.
Các học thuyết và quan
điểm đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm, nhưng không thể đồng nhất tư
tưởng và học thuyết ấy khi chúng đi vào trong tác phẩm vì như thế là biến tư
tưởng tác phẩm thành sự minh hoạ giản đơn cho các tư tưởng, quan niệm có sẵn.
Mặt khác, đối lập nội dung tư tưởng tác phẩm với nội dung quan điểm, học
thuyết, thế giới quan thì lại càng sai, vì sẽ dẫn đến đối lập thế giới quan và
sáng tác mà quá trình sáng tác thì nhà văn luôn chịu sự chi phối của thế giới
quan nhất định. Vì vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mac – Lênin phân biệt nhưng
không bao giờ đối lập các quan điểm, học thuyết với hệ thống hình tượng được
nhà văn sáng tạo nên, mà luôn xem chúng là một thể thống nhất và từ mâu thuẫn
nội tại của nó mà nhìn nhận giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm. Phân tích
sự lí giải về mặt quan điểm cho ta thấy chiều sâu tư tưởng mà tác phẩm đạt
được.
Tư tưởng của tác phẩm có thể được thể hiện trực tiếp qua lời thuyết minh của tác giả, của nhân vật trong tác phẩm cũng có thể được thể hiện qua logic của sự miêu tả. Logic của sự miêu tả là quá trình, diễn biến của sự kiện, hành động, các chi tiết được miêu tả. Ăngghen từng nói: “Bất cứ sự miêu tả nào đồng thời tất yếu là sự giải thích”.
Tóm lại, tư tưởng tác phẩm phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
Tư tưởng của tác phẩm có thể được thể hiện trực tiếp qua lời thuyết minh của tác giả, của nhân vật trong tác phẩm cũng có thể được thể hiện qua logic của sự miêu tả. Logic của sự miêu tả là quá trình, diễn biến của sự kiện, hành động, các chi tiết được miêu tả. Ăngghen từng nói: “Bất cứ sự miêu tả nào đồng thời tất yếu là sự giải thích”.
Tóm lại, tư tưởng tác phẩm phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
- Tư tưởng hình tượng:
thông qua những hình tượng, những chi tiết mà tư tưởng, tình cảm được thể hiện
sống động. Tư tưởng này có thể trùng với tư tưởng tác giả, cũng có những trường
hợp tư tưởng hình tượng rộng hơn tư tưởng tác giả.
- Tư tưởng nghệ thuật: tư tưởng ấy phải được tác giả thể hiện bằng ngôn từ độc đáo, đa nghĩa, bằng hình thức nghệ thuật đầy sáng tạo mang dấu ấn cá nhân và thời đại. Nó góp phần làm giàu óc nghệ thuật của con người.
Tư tưởng của Truyện Kiều thể hiện ở lời thuyết minh của tác giả. Theo lời thuyết minh, Truyện Kiều mang tư tưởng định mệnh, Thuý Kiều phải chịu mệnh bạc là do quy luật bù trừ – “hồng nhan bạc phận”, “tạo vật đố toàn” và do cái nghiệp kiếp trước đã gây. Nhưng qua logic của sự miêu tả hay qua hệ thống hình tượng nhân vật, ta thấy cái khổ của Kiều là do bọn bất lương đem đến. Đỗ Đức Dục cho rằng, đó là sự “xung đột giữa triết lí duy tâm và tinh thần thực tiễn” [3;80]. Tinh thần thực tiễn ấy thể hiện ở giá trị phê phán và tố cáo của tác phẩm. Triết lí duy tâm thể hiện ở sự tiếp biến các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong việc xây dựng hình tượng nhân vật. Nghĩa là, trong quá trình xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Du đã chịu sự chi phối của ý thức hệ tư tưởng phức tạp. Hệ tư tưởng này là sự dung hợp và tiếp biến cả ba tư tưởng chính yếu của thời đại – Nho, Phật, Lão.
- Tư tưởng nghệ thuật: tư tưởng ấy phải được tác giả thể hiện bằng ngôn từ độc đáo, đa nghĩa, bằng hình thức nghệ thuật đầy sáng tạo mang dấu ấn cá nhân và thời đại. Nó góp phần làm giàu óc nghệ thuật của con người.
Tư tưởng của Truyện Kiều thể hiện ở lời thuyết minh của tác giả. Theo lời thuyết minh, Truyện Kiều mang tư tưởng định mệnh, Thuý Kiều phải chịu mệnh bạc là do quy luật bù trừ – “hồng nhan bạc phận”, “tạo vật đố toàn” và do cái nghiệp kiếp trước đã gây. Nhưng qua logic của sự miêu tả hay qua hệ thống hình tượng nhân vật, ta thấy cái khổ của Kiều là do bọn bất lương đem đến. Đỗ Đức Dục cho rằng, đó là sự “xung đột giữa triết lí duy tâm và tinh thần thực tiễn” [3;80]. Tinh thần thực tiễn ấy thể hiện ở giá trị phê phán và tố cáo của tác phẩm. Triết lí duy tâm thể hiện ở sự tiếp biến các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong việc xây dựng hình tượng nhân vật. Nghĩa là, trong quá trình xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Du đã chịu sự chi phối của ý thức hệ tư tưởng phức tạp. Hệ tư tưởng này là sự dung hợp và tiếp biến cả ba tư tưởng chính yếu của thời đại – Nho, Phật, Lão.
2. Khái quát nội dung
tư tưởng chính của các học thuyết Nho, Phật, Lão:
2.1 Phật giáo:
Đạo Phật hình thành ở
Ấn Độ vào thế kỉ VI trước công nguyên, người sáng lập là Thái tử Siddharta
(Tất-đạt-đa) họ là Gautama (Cồ-đàm) con vua Suddhodana (Tịnh-phạn). Ngài sinh
khoảng năm 642 TrCN, vào lúc ở Ấn Độ, đạo Bàlamôn đang thống trị với sự phân chia
đẳng cấp sâu sắc trong xã hội. Nỗi bất bình về sự phân chia đẳng cấp, kì thị
màu da và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân là nguyên nhân thúc đẩy Ngài đi tìm
con đường giải thoát cho chúng sinh.
Năm 35 tuổi, Ngài tìm được cách giải thoát khổ ải cho con người. Từ đó, Ngài được tôn là Bouddha. Đến khi đạo Phật truyền sang Trung Quốc, người Trung Quốc mới theo âm mà dịch là Phật-đà, gọi tắt là Phật. Phật-đà dịch theo chữ Nho là Giác-giả. Giác-giả là người biết tận cùng nguồn gốc của sự vật trong vũ trụ, biết rõ hết thảy các lí lẽ của tạo hoá và có thể chỉ bảo cho chúng ta giải thoát được khỏi luân hồi sanh tử.
Năm 35 tuổi, Ngài tìm được cách giải thoát khổ ải cho con người. Từ đó, Ngài được tôn là Bouddha. Đến khi đạo Phật truyền sang Trung Quốc, người Trung Quốc mới theo âm mà dịch là Phật-đà, gọi tắt là Phật. Phật-đà dịch theo chữ Nho là Giác-giả. Giác-giả là người biết tận cùng nguồn gốc của sự vật trong vũ trụ, biết rõ hết thảy các lí lẽ của tạo hoá và có thể chỉ bảo cho chúng ta giải thoát được khỏi luân hồi sanh tử.
Thực chất đạo Phật là
học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát. Bởi vậy Phật xướng lên thuyết Tứ thánh
đế và Thập nhị nhân duyên:
TỨ THÁNH ĐẾ:
o · Khổ đế: Chân lí về bản chất của nỗi khổ
Khổ là gì? Đó là trạng
thái buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do yêu thích mà
không được gần (ái biệt ly), do mong muốn mà không đạt (sở cầu bất đắc), do mất
cái vinh lạc… sinh ra khổ.
o · Nhân đế (Tập đế): Chân lí về nguyên nhân của nỗi khổ
Đức Thế Tôn lấy thuyết
Thập nhị nhân duyên mà giải thích chữ Tập đế. Khổ gốc ở vô minh và ái dục (ham
muốn). Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là Nghiệp (Karma), hành động xấu
khiến người ta nhận lấy hậu quả xấu, hành động tốt khiến người ta nhận kết quả
tốt gọi là nghiệp báo, nhưng thông thường người ta dùng từ nghiệp báo với nghĩa
là quả báo xấu. Con người cứ gây nghiệp rồi chịu hậu quả của nó, trả nghiệp cũ
rồi cứ gây nghiệp mới, cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được.
o · Diệt đế: Chân lí về cảnh giới diệt khổ
Nỗi khổ sẽ bị tiêu
diệt khi nguyên nhân gây ra nỗi khổ bị diệt trừ. Tiêu diệt khổ đau gọi là Niết
bàn (nirvana, nghĩa đen là không còn ham muốn, dập tắt). Đó là thế giới của sự
giác ngộ và giải thoát.
o · Đạo đế: Chân lí chỉ ra con đường diệt khổ
Con đường diệt khổ,
giải thoát và giác ngộ đòi hỏi con người phải rèn luyện đạo đức (giới), rèn
luyện tư tưởng (định), khai sáng trí tuệ (tuệ). Ba môn học này được cụ thể hoá
trong khái niệm Bát chánh đạo (tám nẻo đường chân chính). Đó là:
- Chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng (thuộc về rèn luyện đạo đức – giới).
- Chánh niệm, chánh
định ( thuộc về lĩnh vực rèn luyện tư tưởng – định).
- Chánh kiến, chánh tư
duy, chánh tinh tấn (thuộc về lĩnh vực khai sáng trí tuệ – tuệ).
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
Thập nhị nhân duyên là
đạo lí giải thích tại sao con người phải luân hồi trong bể khổ sinh tử. Có thể
chia như sau:
Lưu chuyển ba đời
1.Nhân quá
khứ
2.Hiện
tại
3.Quả vị lai
1. Vô minh
2. Hành 3. Thức
4. Danh sắc 5. Lục
nhập 6. Xúc 7. Thọ
8. Ái
9. Thủ 10. Hữu
11. Sinh 12.
Lão, tử
Giải thích đại khái
là: một người do ngu muội, không rõ thiện ác phải trái (vô minh) ở đời quá khứ,
dẫn đến làm điều xấu (hành) tạo ra cái nhân xấu ở quá khứ. Khi qua đời phải đi
đầu thai thọ sinh (thức), ở trong thai thân tâm dần hình thành (danh sắc);đến
lúc ra khỏi thai mẹ thì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nghĩ đầy đủ (lục nhập);
sau khi ra đời tiếp xúc ngoại giới:mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi…(xúc); lớn lên
đối với khổ, vui của ngoại giới có sự cảm thụ (thọ); đối với cái tốt đẹp của
ngoại giới khởi tâm ham muốn (ái); từ ham muốn mới phát tâm chiếm giữ (thủ) và
mê muội theo đuổi nó (hữu) chính là cái nhân xấu cho thời vị lai. Đã có cái
nhân xấu hay cái nghiệp xấu thì phải đầu thai thọ sinh ở đời sau để trả cái
nghiệp đã gây (sinh), đã sinh thì phải có hiện tượng già suy, bệnh chết (lão,
tử).
Mười hai nhân duyên
đều trong Tứ thánh đế hoặc khai hoặc hợp mà ra, như vô minh, hành, ái, thủ, hữu
là năm chi hợp thành Tập đế; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ,
sinh, lão tử là bảy chi mở ra làm Khổ đế: cái trí xem thấu cái lẽ
sinh và diệt của nhân duyên là Đạo đế; dứt được mười hai nhân duyên
là Diệt đế.
Thuyết thập nhị
nhân duyên này giải thích rằng, sở dĩ chúng ta đầu thai nơi nhân gian là vì quá
khứ chúng ta vô tri, không rõ thị phi, làm điều càng quấy tạo nên nghiệp
chướng, do vậy ở đời này chúng ta phải nỗ lực hành thiện, cắt đứt hết thảy nhân
xấu, có như vậy mới tránh khỏi luân hồi khổ báo.
Tóm lại, học thuyết
Phật giáo nhằm giải thích nguyên nhân nỗi khổ của con người và khởi xướng con
đường diệt khổ. Con người phải tu tâm, thiện tính để tạo nhân tốt, từ đó mới
hưởng được quả tốt, thoát vòng khổ ải.
2.2 Nho giáo:
Trong xã hội Trung Hoa
cổ đại, “nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi. Nho
giáo là một hệ thống giáo lí của nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả. Để
đạt được mục đích đó, Nho giáo đặt ra kiểu mẫu người “quân tử” để cai trị xã
hội. Để trở hành người quân tử trước hết phải tu thân sau đó mới hành
động.
TU THÂN: có 3 tiêu chuẩn:
· Đạt “Đạo”.
Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải biết cách ứng xử trong
cuộc sống. Quan hệ xã hội được quy vào năm mối: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh
em, bè bạn (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). Năm mối
quan hệ đó gọi là ngũ luân. Thực hiện ngũ luân, con người có thập nghĩa: cha
từ, con hiếu, anh lành, em kính, chồng nghĩa, vợ hiền, trên ban huệ, dưới hoà
thuận, vua nhân, tôi trung.
· Đạt “Đức”.
Đức của người quân tử gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Nhân là phần cốt lõi của học thuyết Nho giáo.
Nhân là yêu người (nhân giả ái nhân), coi người và mình như nhau, cái gì
mình muốn thì cũng cố gắng làm cho người khác được như vậy (kỉ sở dục lập
nhi lập nhân, kỉ sở dục đạt nhi đạt nhân), cái gì mình không muốn thì đừng
làm cho người khác (kỉ sở bất dục vật thi ư nhân). Để đạt được nhân thì
phải có năm đức: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung là cung
kính, không khinh thường người khác; khoan là rộng rãi với mọi
người; tín là nói gì thì làm đúng như vậy; mẫn là
nhanh nhẹn, tháo vác, tích cực năng động trong công việc; huệ là
cho người mà không tiếc của.
Lễ là những quy định mà mọi người cho là
đúng và nghe theo để giữ đúng vị trí của từng người trong tương quan giữa mọi
người; tuỳ theo phận vị mà mỗi người được phép làm gì, nói gì, mặc gì… Khổng Tử
bảo: “Khắc kỉ phục lễ ư nhân”, nghĩa là kiềm hãm cái tôi, giữ cho đúng
lễ là nhân. Lễ là điều kiện để đạt nhân. Vì lễ nên giữ được hoà khí, trong nhà
không ai ghét, trong xã hội không ai oán mình. Giữ được lễ nên trong việc giao
tiếp tránh được sự sỗ sàng. Trong việc lễ, quý nhất là lòng thành chứ không
phải hình thức xa hoa loè loẹt.
Nghĩa là mối quan hệ, cách ứng xử của con
người đối với tập thể, khi hành động con người cá nhân phải đặt tập thể lên
hàng đầu.
Trí là hiểu biết của người quân tử. Con người muốn có trí phải không
ngừng học hỏi, học đến “cách vật chí tri”(hiểu tận nguồn gốc của sự vật mới
được gọi là hiểu biết). Người trí là người biết mình và biết người, biết khôn
ngoan suy xét điều phải trái, biết minh triết bảo thân trong lúc nguy nan, biết
biện biệt kẻ xấu người tốt trong vấn đề xử lý tiếp vật. Nếu lỡ giao du với kẻ
xấu thì phải tuyệt giao với họ nhưng không nói xấu họ.
Dũng là không biết sợ nguy nan, thấy việc nghĩa thì ra tay hành động
chứ không chỉ là lời nói suông.
· Người quân tử phải
có vốn văn hoá toàn diện, nghĩa là phải biết ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh
Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu.
HÀNH ĐỘNG:
Tu thân rồi, bổn phận
của người quân tử là phải tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, vì theo Khổng Tử: “Người
xưa muốn làm sáng tỏ cái đức sáng trong thiên hạ, trước lo trị nước. Người muốn
trị nước, trước lo chỉnh đốn trong nhà. Người muốn chỉnh đốn trong nhà, trước
lo sửa mình. Người muốn sửa mình, trước lo cho lòng chân chính. Người muốn cho
lòng chân chính, trước lo cho ý chân thực. Người muốn cho ý chân thực, trước
tiên là đạt được sự hiểu biết. Để đạt được hiểu biết, con người phải phân tích,
tìm hiểu đến tận cùng nguyên lí của sự vật”.
Cổ chi dục minh minh
đức ư thiên hạ giả, tiên trị kì quốc. Dục trị kì quốc giả, tiên tề kì gia. Dục
tề kì gia giả, tiên tu kì thân. Dục tu kì thân giả, tiên chính kì tâm. Dục
chính kì tâm giả, tiên thành kì ý. Dục thành kì ý giả, tiên trí kì tri. Trí tri
tại cách vật. [17;40]
Điều này có nghĩa là,
kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị là hai phương châm:
· Phương châm thứ nhất
là nhân trị. Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình
người, coi người như bản thân mình.
· Phương châm thứ hai
là chính danh. Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi
người phải làm đúng với chức phận của mình. Chính danh trong cai trị là phải
làm sao cho “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”(quân quân,
thần thần, phụ phụ, tử tử – Luận ngữ). Nếu danh không chính thì lới
nói không thuận, lời nói không thuận thì tất việc chẳng thành.
Như vậy, học thuyết
Nho gia chỉ nhằm mục đích duy nhất là ổn định trật tự xã hội bằng giềng mối đạo
đức, bằng luân thường đạo nghĩa. Tư tưởng này gần với thuyết không tưởng. Cho
nên, đương thời Khổng Tử, tư tưởng này không được triều đình trọng dụng.
2.3 Lão giáo:
Lão giáo hay còn gọi
là Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng nam Trung
Hoa vào thời Xuân thu – Chiến quốc. Lúc này nó chưa được tôn là tôn giáo nên
được gọi là Đạo gia. Đạo này được Lão Tử khởi lập và Trang Tử hoàn thiện cho nên
còn được gọi là Đạo Lão với tư tưởng Lão – Trang. Học thuyết tư tưởng này chủ
yếu tập trung ở hai khái niệm cốt lõi là Đạo và Đức.
Đạo của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng
chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách hiển nhiên. Đạo theo Lão Tử là nguyên lí tối
cao của vũ trụ nguyên lí siêu hình không thể dùng lí trí để phân tích, tìm hiểu
hay bàn bạc gì được.
Đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng
sự vật. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào thành ra
vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do đức. Nếu đạo là
cái tĩnh, vô hình thì đức là cái động, hữu hình của đạo.
Nếu đạo là bản chất vũ trụ thì đức là sự cấu
tạo và tồn tại của vũ trụ.
Sự sinh hóa từ đạo trở
về đức, từ đức trở về đạo theo
Lão Tử là sự thấm nhuần triết lí âm dương biến đổi và tinh thần biện chứng của
triết lí nông nghiệp. Tất cả đều được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn
vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng và chu đáo, do vậy
mà mầu nhiệm. Hợp lí vì theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao
thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên. Công bằng vì nó luôn luôn bớt chỗ thưa bù
vào chỗ thiếu. Chu đáo vì nó như lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.
Bởi vậy mà nó mầu nhiệm đến mức không cần cạnh tranh mà chiến thắng, không cần
nói mà ứng nghiệm. Mọi sự bất cập hay thái hoá, mất quân bình đều là trái tự
nhiên, do vậy sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hoá.
Từ đó, Lão Tử đề ra
lối sống “vô vi”. Muốn hành động theo “vô vi” con người phải sống giản dị. Giản
dị là sống đạm bạc không đua đòi, không tập nhiễm. Giản dị là điều kiện tiên
quyết trong phép xử thế. Người giản dị thản nhiên trước mọi cám dỗ về tinh thần
lẫn vật chất. Giản dị là tính căn bản để con người sống theo tự nhiên. Không
tranh giành, sống theo tự nhiên, con người sẽ tránh được khổ đau, nguy hiểm.
Triết lí vô vi áp dụng
vào đời sống xã hội, ông không tán thành lối cai trị cưỡng chế. Ông ghét trị
nước bằng thuật dùng trí “lấy trí mà trị nước là cái vạ cho nước, không lấy
trí mà trị nước là cái phúc cho nước” (Dĩ trí trị quốc chi tặc, bất dĩ trí
trị quốc quốc chi phúc – Đạo đức kinh, Chương 65).
Tóm lại, Đạo Lão là
môn phái đại diện cho tầng lớp quý tộc cũ đã sa sút, bất lực trước sự đổi thay
của thời thế, cam chịu sống đời ẩn dật. là những người trải qua nhiều nổi chìm,
họ đã nhìn rõ được cái mà họ gọi là “thế sự phù hoa hư ảo”. Do đó đối với giai
cấp thống trị đương thời họ có nhiều ác cảm. Trước nỗi thống khổ của nhân dân,
đặc biệt là tầng lớp tiểu nông đã phá sản, họ tỏ ra thông cảm và đồng tình.
Nhưng họ lại ước mơ thay đổi hiện thực đen tối trước mắt bằng cách quay lại với
đời sống giản dị, thuần phác, gần thiên nhiên, thuận theo tự nhiên như cuộc
sống của người thái cổ, với chế độ công xã nguyên thủy xa xưa.
Nhìn chung, cả ba học
thuyết Nho, Phật, Lão đều có một điểm chung là hướng con người vào cái thiện và
mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Đây là tinh thần nhân đạo
của các học thuyết. Mà tinh thần nhân đạo thì thời đại nào cũng phù hợp. Có lẽ,
chính cái tinh hoa của các học thuyết này đã lôi cuốn tinh thần học hỏi của
Nguyễn Du. Ông đã thông cả tam giáo. Chắc rằng đấy cũng là một trong những
nguyên nhân hình thành nên tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du. Nó có ảnh hưởng
không ít đến quá trình sáng tác của ông, nhất là Truyện Kiều.
Chương II. TRUYỆN
KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI SỰ TIẾP BIẾN CÁC HỆ TƯ TƯỞNG NHO, PHẬT,
LÃO TRONG XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
1. Tư tưởng Nho, Phật,
Lão trong Truyện Kiều:
Tác phẩm văn học là
tiếng nói của nhận thức, quan niệm, những suy nghĩ của nhà văn về cuộc đời và
con người. Nói theo TS. Lê Ngọc Trà “Nhà văn sáng tác khi thấy đau ở đâu đấy
trong tâm hồn, khi có điều gì muốn gởi gắm”. Do đó, tác phẩm
văn học luôn chịu sự chi phối của thế giới quan của nhà văn. Đó là
tư
tưởng lí luận, các
quan niệm triết học, quan niệm chính trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tôn
giáo, quan niệm thẩm mĩ của tác giả.
Vì thế, tầm cỡ của nhà
văn và tác phẩm phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc và độ chín của suy nghĩ nhà
văn. Muốn như thế, nhà văn phải có tư tưởng lớn, phải theo đuổi những quan niệm
triết học lớn, phải có chính kiến xã hội, có những quan điểm sâu sắc và triệt
để về đạo đức, tôn giáo và nghệ thuật. Vì mỗi hình thái xã hội có một thượng
tầng tư tưởng điều khiển. Nắm được thượng tầng tư tưởng đó nhà văn có thể khám
phá sâu sắc và độc đáo về con người, giải quyết được vấn đề chung của xã hội.
Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đáp ứng được nhu cầu
này. Nguyễn Du đã chọn cho mình một hệ thống tư tưởng lớn của xã hội phong kiến
lúc bấy giờ – Nho, Phật, Lão – để giải thích những phức tạp trong đời sống của
con người, để giải quyết số phận chung của xã hội, của dân tộc trong một thời
kì lịch sử đầy biến động. Sự thể hiện tư tưởng này trong Truyện Kiều là
ởtriết lí nhân sinh và luân lí đạo đức.
1.1.1 Tài mệnh tương
đố với luật bù trừ của Lão giáo:
Mở đầu Truyện
Kiều, Nguyễn Du với tư cách là người dẫn truyện đã phát biểu:
Trăm năm trong cõi
người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo
là ghét nhau.
Lời ấy như lời phát
biểu của một triết gia có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống đã từng “Trải
qua một cuộc bể dâu” chứng khiến “Những điều trông thấy mà đau đớn
lòng”.
“Những điều trông
thấy” ấy là những xót xa trước bất công của tạo hoá. Tài mệnh ghét nhau mà
Nguyễn Du nói là dịch từ cổ ngữ “Tài mệnh tương đố”. Tài là năng lực vốn có của
con người. Tài do tư chất thông minh cũng có thể do rèn luyện mà có. Tài có thể
là tài hoa, tài tử cũng có thể là tài trí dũng, tài mưu lược. Cho nên, tài gồm
cả trí tuệ và kĩ năng. Mệnh có nguồn gốc Nho giáo. Nho giáo cho rằng, mỗi người
sinh ra đều có mạng số, cái phúc phần mà trời ban gọi là thiên mệnh. Tử Hạ nói:
“Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, chết sống do số mệnh, giàu sang do
trời. Mệnh là cái phần số của con người được quy định ở giới tối cao không thể
thay đổi, Nho giáo gọi là định mệnh. Như vậy, mệnh có thể là phần phúc cũng có
thể là bất hạnh. Nhưng chữ “mệnh” mà Nguyễn Du sử dụng chỉ giới hạn ở nghĩa là
cái phần phúc mà con người được hưởng. Tài mệnh ghét nhau nghĩa là chúng không
tồn tại đồng thời trong mỗi con người, giữa tài và mệnh có sự chống đối nhau.
Tài đa thì mệnh bạc, tài càng nhiều thì cái phúc phần càng ít. Càng có tài bao
nhiêu thì số mạng càng ngang trái bấy nhiêu. Người càng có tài thì càng đau
khổ. Những người có tài mà nhiều người thấy được thì sẽ bị ganh ghét. Sắc và
tài là hai cái mà khi phát tiết ra ngoài nhiều quá thì sẽ làm cho người mang nó
đau khổ:
Anh hoa phát tiết ra
ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một
đời tài hoa.
Ở xã hội phong kiến
suy vi thối nát thời Nguyễn Du, thuyết tài mệnh tương đố như là một chân lí.
Con người tin tưởng nó với một thái độ bất mãn và bất lực trước cuộc đời.
Xét về nguồn gốc của
thuyết này, Đào Duy Anh đã khẳng định: “Tư tưởng chủ yếu của Nguyễn Du trong
sách này là tài mệnh tương đố, tư tưởng ấy là nòng cốt tinh thần cho toàn
truyện, mà mỗi một chương, mỗi một chi tiết, mỗi một đoan là để chứng minh cho
nó mà thôi. Tư tưởng ấy gốc ở thuyết thiên mệnh của Nho giáo”. [12;64]
Nho giáo có đề thuyết
thiên mệnh. Thiên mệnh là mệnh trời. Con người hành động phải tuân theo mệnh
trời. Thầy Mạnh Tử dạy: “Vạn sự bất do nhân kế hiệu, nhất sinh đô thị mệnh
an bài”, mọi chuyện không do người toan tính đời người đều do số mệnh an
bài. Thiên mệnh của Nho gia là cái gì đó rất huyền bí, người quân tử phải biết
“uý thiên mệnh”. Sợ mệnh trời vì “Trời là lí nhưng cái lí linh diệu vô cùng,
làm chúa tể của cả muôn vật và ở chỗ nào cũng có. Cho nên, người ta phải kính
Trời và sợ Trời” [10;64]. Chứ không phải sợ mệnh trời vì trời làm ra lẽ bất
công định người tài hoa thì mệnh bạc.
Và xét trong Nho giáo
từ khởi thuỷ, chưa có ai chủ trương rằng người có tài phải chịu bất hạnh bao
giờ. Trái lại, Nho giáo rất coi trọng người có tài. Người có tài cao, đức rộng
gọi là thánh nhân, người có tài trí đạo mạo được gọi là quân tử. Người quân tử
phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, phải “học nhi bất yếm”, học đến “cách
vật chí tri” vì muốn có nhân phải ham học, ham làm điều nhân mà không ham
học thì cái lòng bị che lấp và ngu si ( Hiếu nhân bất hiếu học kì tế
giả ngu – Luận ngữ), chỉ có học mời hiểu đạo (nhân bất
học bất tri đạo). Cho nên, Nho giáo rất coi trọng bậc tài cao đức trọng.
Triều đình phong kiến lấy tư tưởng trọng nhân tài của Nho giáo mà đề xuất những
cuộc thi tuyển nhân tài ra làm quan giúp nước ích đời vì chỉ có người tài mới
có đủ năng lực “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Vì thế, các Nho sĩ thời xưa
lập công danh bằng cái tài của mình. Vậy nên, trong học thuyết Nho gia không
thể nào đề ra thuyết người có tài thì bất hạnh.
Phật giáo càng không
cho rằng ông trời ăn ở bất công như thế. Học thuyết cốt lõi của nhà Phật là
thuyết nhân quả, ai gieo nhân gì thì gặt quả ấy. Đó là quy luật rất công bằng
trong tư tưởng Phật giáo. Nếu ta gặp mệnh xấu là do ta gieo nhân xấu ở kiếp
trước chứ không phải do ta có tài.
Có thể nói, cả Nho và
Phật đều không chấp nhận thuyết tài mệnh tương đố. Điều này có phần gặp gỡ với
ý kiến của Phan Ngọc. Nhưng Phan Ngọc thì cho rằng, tài mệnh tương đố không
phải là một sáo ngữ, không phải là sự lặp lại câu nói của ngàn xưa mà nó là một
sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du. “Nó là một vấn đề không có tính chất muôn
thuở, mà nảy sinh trong một giai đoạn lịch sử nhất định” [15;42]. Ông đã
chứng minh vấn đề này bằng một loạt đối lập:
o · Đối lập với Kim – Vân – Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân, Phan Ngọc cho rằngTruyện Kim Vân Kiều thuyết
minh cho câu chuyện “tình khổ” đã được Nguyễn Du nâng lên thành câu chuyện “tài
mệnh tương đố”, “hồng nhan bạc mệnh”.
o · Xét trong tư tưởng Trung Quốc, từ Hán trở về
trước không ai nói đến chuyện tài mệnh tương đố. Nhiều lắm chỉ nói bóng gió
sinh không gặp thời. Giữa thời với tài năng con người không có quan hệ gì với
nhau. Ông phát biểu: “Tôi cố tìm trong tiểu thuyết Trung Quốc mà không thấy
ở đâu có trường hợp có thể khẳng định cái nhìn của Nguyễn Du là xuất phát từ
đấy”.
o · Tư tưởng này không xuất phát từ Phật giáo vì
Phật giáo khẳng định cái khổ nằm ngoài sự sống, hễ sống là khổ, đời là bể khổ,
dù là hồng nhan hay không hồng nhan, người tài hay bất tài đều khổ, cái khổ bao
trùm không phải con người mà toàn bộ chúng sinh.
Tư tưởng trong Lão
giáo càng không phải. Lão giáo chủ trương sống chết như nhau, được thua là vậy
thì làm gì có chỗ đứng cho thuyết “tạo vật đố tài”?
Nó không thể là hậu
quả của thuyết định mệnh. Thuyết định mệnh khẳng định số phận con người đã được
khẳng định từ trước, không liên quan gì đến có tài hay không có tài…
Nó không thể bắt nguồn
từ văn học dân gian vì đặc điểm của văn học dân gian là tư tưởng lạc quan. Nó
khẳng định hạnh phúc đến với ai có tài có đức. [15;42– 46]
Những luận cứ này được
Phan Ngọc đưa ra nhằm chứng minh cho luận điểm tài mệnh tương đố là sáng tạo
độc đáo của Nguyễn Du. Thoạt nghe thì đó là những luận cứ rất xác đáng và rất
được sự đồng tình của độc giả. Tuy vậy, cái nhận định “Tôi cố tìm trong tiểu
thuyết Trung Quốc mà không thấy ở đâu có trường hợp có thể khẳng định cái nhìn
của Nguyễn Du là xuất phát từ đấy” thì lại trái với ý kiến của Đào Duy Anh.
Theo Đào Duy Anh, “người ta bằng vào kinh nghiệm do những điều trông thấy ở
đời mà suy ra ý huyền bí của trời. Những người có thiên tài lỗi lạc như Khuất
Nguyên, Đỗ Phủ, làm sao một đơì lại gặp cảnh khổ não? Những người quốc sắc như
Chiêu Quân, như Dương Quý Phi làm sao không được hưởng hạnh phúc nhà vàng mà
rốt cuộc phải chết thê thảm?… Nhân cái lẽ ấy mà dần dần người ta nhận thấy tài
sắc với số mệnh không dung hợp nhau. Nguyễn Du nói “Tài mệnh ghét nhau” cũng
như Lý Thương Ẩn đời Đường nói “cổ lai tài mệnh lưỡng tương phân” vậy”.
[12;1065]
Không cần thuyết minh
thêm, người đọc cũng nhận ra ý kiến của ai là khách quan, ý kiến của ai thiếu
khách quan. Hơn nữa, khi giải thích luận cứ “tài mệnh tương đố” không phải bắt
nguồn từ Lão giáo thì hoá ra Phan Ngọc chưa nắm vững những tư tưởng của Lão
giáo.
Lão tử, người khởi lập
phái Đạo gia cũng là người đầu tiên đưa ra cái luật bù trừ của tạo hoá:
“Đạo trời phải
chăng cũng như phép giương cung ngắm bắn, nếu cao quá thì lại hạ thấp xuống,
nếu thấp quá thì lại nâng cao lên, nếu kéo dây cung căng quá thì giảm bớt đi,
nếu kéo dây cung chưa đủ thì tăng lên. Đạo trời rút bớt chỗ thừa để bù vào chỗ
thiếu…”
(Thiên chi đạo, kì do
trương cung tư? Cao giả ức chi, hạ giả cử chi, hữu dư giả tổn chi, bất túc giả
bổ chi. Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc… – Đạo đức kinh,
Chương 47).
Mặt khác, phần nổi
nhất trong tư tưởng của Lão Tử là những nguyên tắc quan trọng của phép biện
chứng mà ông đã cảm nhận được một cách rõ ràng. Theo ông, mọi sự vật đều bao
hàm hai mặt: chính phản đối lập nhau, nương tựa nhau mà tồn tại, sự vật phát
triển đến điểm đỉnh thì chuyển sang mặt tương phản. Đó là điều mà ông nhấn mạnh
“phản là động của đạo”, phải biết lấy nhu thắng cương, lưỡi mềm nên lưỡi
còn, răng cứng nên răng mất. Do đó ông chủ trương con người sống theo lối “vô
vi”, biết đủ, không tranh giành. Có như vậy thì mới mong bảo toàn được sinh
mạng, tránh được những điều nguy hại. Vì thế đối với ông, con người không cần
phải có tài. Con người có tài sẽ sinh ra xảo trá, gian ngoa (Trí tuệ xuất
hữu đai ngụy). Ông chủ trương không tôn trọng người tài để dân không tranh
giành (Bất thượng hiền sử dân bất tranh).
Như vậy theo Lão Tử,
con người không cần phải có tài. Tài nhiều chỉ để người ganh ghét. Tài nhiều
chỉ để tạo hoá bù trừ vào đó là cái mệnh bạc. Cho nên, ở góc độ nào đó có thể
khẳng định thuyết tài mệnh tương đố xuất phất từ định luật bù trừ của tạo hóa
mà Lão giáo rất coi trọng.
Nguyễn Du đã cụ thể
hoá cái thuyết bù trừ của Lão Tử thành tài mệnh tương đố. Tuy nhiên với Lão
giáo, tạo hoá bù trừ chỉ là một triết lí rút ra từ sự suy nghiệm cuộc sống, từ
sự thông đời hiểu thế của một triết gia. Còn với Truyện Kiều, tài
mệnh tương đố như một học thuyết mà Nguyễn Du cần phải chứng minh.
Cuộc đời Thuý Kiều là
một minh chứng cụ thể sinh động cho thuyết ấy. Đó không chỉ là tài mệnh tương
đố mà còn hồng nhan bạc phận, là sự ganh ghét của tạo hoá. Tạo hoá ganh với sắc
đẹp của nàng, vì nàng có “làn thu thuỷ, nét xuân sơn” cho nên “hoa
ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Còn với cái tài của nàng thì:
Thông minh pha sẵn tư
trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ
mùi ca ngâm.
Cung, thương, làu bậc
ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt cầm
một trương.
Nhưng trong cái tài ấy
thì lại chất chứa “Một thiên bạc mệnh lại càng não thân”. Dường như với
Nguyễn Du, tài hoa – bạc mệnh là hai mặt của một trang giấy, nó không tách rời
nhau. Cho nên, ông thường viết những câu:
Rằng: Hồng nhan tự
thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có
chừa ai đâu.
Hay:
Anh hoa phát tiết ra
ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một
đời tài hoa.
Lại còn:
Nghĩ đời mà ngán cho
đời,
Tài tình chi lắm cho
trời đất ghen.
Ngay cả Kim Trọng khi
nghe Kiều đàn xong cũng nhận xét:
Rằng: “ Hay thì thật
là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt
cay thế nào…”
Hình như trong cái tài
đã chứa sẵn phần đau khổ. Trời ban cho con người cái tài thì cũng dành cho cái
khổ. Nếu hiểu thuyết tài mệnh tương đố như lời phát biểu giản đơn ấy thì cái
bạc mệnh kia chỉ là bởi do trời, con người hoàn toàn vô can. Nói thế thì giá
trị tư tưởngTruyện Kiều chỉ gợi lên lòng trắc ẩn, nỗi thương cảm
của người đọc trước cái bất hạnh của con người. Cũng như những nhân vật khác
trong Truyện Kiều đã từng thông cảm cho Kiều. Thúc ông đã
từng:
Thương vì hạnh trọng
vì tài,
Thúc ông thôi cũng dẹp
lời phong ba.
Còn Hoạn Thư thì:
Tiểu thư xem cũng
thương tài
Khuôn uy dường cũng
bớt vài bốn phân.
Nhờ những lần thông
cảm ấy mà Kiều thoát khỏi những lần hành hạ, những trận đòn roi. Và như thế,
chẳng lẽ Nguyễn Du lại quan niệm tất cả nỗi khổ con người là do ở tạo hoá, mà
tạo hoá luôn bất công còn con người hoàn toàn bất lực? Không. Nguyễn Du không rơi
vào duy tâm hay thần học. Dù bề ngoài Nguyễn Du cho rằng cái điều bạc mệnh ấy
là quy luật của tạo hoá, do tạo vật đố toàn, nhưng thực chất nó lại không thể
biện minh cho thái độ bất mãn của ông đối với cuộc đời.
Cái thời đại mà Nguyễn
Du sống là cái thời đại rối rắm, thời tranh quyền đoạt thế. Nguyễn Du đã chứng
kiến sự suy tàn của chế độ phong kiến. Chỉ trong vòng 13 năm (1789 – 1802) mà
ba triều đại nối tiếp nhau trị vì thiên hạ. Mỗi một triều đại hưng thịnh rồi
lại bại vong là một lần gieo vào lòng người một chút bi quan chán nản. Mỗi một
sự bất công trong xã hội diễn ra là trừ bớt đi niềm tin của con người vào cuộc
sống.
Ở Truyện Kiều,
những bất công trong xã hội diễn ra đầy rẫy. Những bọn “buôn thịt bán người”
như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, những bọn đầu trâu mặt ngựa như
Khuyển, Ưng đi lại khắp nơi trong xã hội Truyện Kiều. Những bọn sai
nha vì tiền, những tên quan vô lại tồn tại một cách nghiễm nhiên. Đó là những
bọn người trực tiếp làm cho cuộc đời Kiều trở nên bạc mệnh.
Nguyễn Du nhận ra điều
đó là hiển nhiên vì ngay cả Lão Tử từ thế kỉ VI TrCN mà còn nhận ra “bất
thượng hiền sử dân bất tranh” thì Nguyễn Du không lí nào không nhận ra “nhân
phạ trứ danh, trư phạ tráng”, người sợ nổi danh, heo sợ mập. Hay nói cách
khác, Nguyễn Du thừa hiểu trong cái xã hội mục nát như thế thì công bình, công
lí khó mà tồn tại. Những ai có tài có sắc thì bị người khác hãm hại chứ không
có một bàn tay huyền bí nào can dự. Cho nên, tài mệnh tương đố không phải là
học thuyết huyễn hoặc, bi quan định mệnh mà là nỗi bất bình của con người trước
thời đại. Nó là sự đúc kết “những điều trông thấy”. Những điều ấy là những nỗi
bất công trong cái xã hội phong kiến đã đến thời suy tàn, cái xã hội chỉ có
đồng tiền ngự trị.
Ở xã hội này, con
người nhất là người phụ nữ tài sắc như Thuý Kiều, Đạm Tiên dễ dàng trở thành
món hàng đầy lợi nhuận của bọn bất lương. Chẳng hạn, trong khi:
Kiều còn ngơ ngẩn biết
gì
Cứ lời, lạy xuống mụ
thì khấn ngay:
“Cửa hàng buôn bán cho
may,
Đêm thì hàn thực, ngày
thì nguyên tiêu…”
Đó là cái cảnh lạ đời
chưa từng thấy của một cô gái mới xuất giá về nhà chồng. Và còn ngỡ ngàng hơn
khi Kiều biết mình không phải đi làm lẽ mà là làm kĩ nữ. Niềm đau đớn tột bật
ấy khiến Kiều không thể chịu nổi và nàng đã tự tử ngay. Nhưng bọn ma quỷ ấy
không để nàng chết, chúng tìm mọi cách để ép nàng phải chịu kiếp phong trần, để
cuộc đời hồng nhan của nàng bị chà đạp đến xót xa. Nàng tự thấy tủi nhục cho
thân phận của mình:
Khi sao phong gấm rủ
là
Giờ sao tan tác như
hoa giữa đàng?
Mặt sao dày gió dạn
sương,
Thân sao bướm chán,
ong chường bấy thân?
Nhưng may, nàng gặp
Thúc Sinh vì “mộ tiếng Kiều nhi” mà “Thiệp hồng tìm đến
hương khuê gởi vào”. Tưởng rằng Kiều sẽ được một chút hạnh phúc lẻ mọn khi
được Thúc Sinh chuộc khỏi lầu xanh về làm vợ lẽ và được cả Thúc ông đồng tình.
Nhưng Kiều không tránh được số mệnh của mình, Hoạn Thư ghen tìm mọi cách hãm
hại nàng. Rồi sau khi chịu bao tủi khổ ở Hoạn gia, Kiều lại rơi vào nhà chứa
khác. Đúng là những khổ đau cứ giăng bẫy cuộc đời nàng. Kiều thoát khỏi ngục tù
này thì lại rơi vào ngục tù khác, thoát khỏi lầu xanh này thì lại rơi vào lầu
xanh khác tưởng chừng như có bàn tay siêu hình nào đó đã sắp đặt sẵn. Thực chất
thì không, cái khổ của Kiều do “bọn người bạc ác tinh ma” đem đến chứ
không phải do “ ma đưa lối quỷ dẫn đường”.
Thuyết tài mệnh tương
đố này được bổ sung bằng hình tượng Đạm Tiên, một ca kĩ:
Nổi danh tài sắc một
thì,
Xôn xao ngoài cửa
thiếu gì yến anh.
Thế mà:
Phận hồng nhan có mong
manh,
Nửa chừng xuân, thoắt
gãy cành thiên hương.
Và rồi Đạm Tiên phải
chịu kiếp:
Sống làm vợ khắp người
ta,
Khéo thay thác
xuống làm ma không chồng!
Nguyễn Du đã nhìn cuộc
đời của Thuý Kiều, Đạm Tiên và nàng ca kĩ đất Long Thành ( Long Thành
cầm giả ca – thơ chữ Hán của Nguyễn Du) mà khóc than rằng:
Đau đớn thay phận đàn
bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng
là lời chung.
Nguyễn Du khóc than
cho nhiều mảnh đời bất hạnh, đặc biệt là những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh .
Thế mới biết, nếu Lão
Tử dùng thuyết tạo hóa bù trừ để an ủi những tâm hồn đau khổ từng chịu những
bất công thì Nguyễn Du cụ thể hoá cái thuyết bù trừ ấy thành “hồng nhan bạc
mệnh”, “tài mệnh tương đố” để gợi lên lòng trắc ẩn, nỗi thông cảm ở con người
và phê phán những bất công trong xã hội. Nhưng nếu ta hiểu thuyết tài mệnh
tương đố mà Nguyễn Du sử dụng là sự cụ thể hoá, sự mô phỏng thuyết bù trừ, luật
quân bình của Lão Tử thì không phải không có ý nghĩa nhân sinh. Theo tinh thần
Lão Tử thì cái “có” sinh từ cái “không”, hạnh phúc sinh từ cái bất hạnh. Lão Tử
giải thích khổ đau, sướng vui luôn cùng nhau tồn tại. Con người phải biết đủ,
không mưu cầu, không than oán số mệnh, có tài thì bị bù trừ cho cái bất hạnh.
Đó là qui luật. Con người không nên than phiền oán trách để rồi tự đau
khổ, tự dày vò mình.
Hiểu như thế thì không
tiêu cực nhưng ý nghĩa tích cực lại không được khẳng định rõ ràng. Có lẽ, dù
Nguyễn Du thông hiểu Đạo giáo và có những lúc Nguyễn Du đã “Ước gì có thể
vào rừng ở, Nằm nghe tiếng thông reo lưng chừng mây” (Tự thán) nhưng
Nguyễn Du không chọn cho mình cái lí tưởng sống “vô vi” như thế.
Cũng như GS Lê Đình Kỵ
nói: “Triết lí Lão – Trang trên thực tế là triết lí của những kẻ thất chí
không chừa một người nào – người đi đúng trào lưu lịch sử cũng như kẻ đi ngược
lại, người có công cũng như kẻ có tội với triều đình – ít có ngai vàng phong
kiến nào mà không đẫm máu me của người thân, cho nên rất cần sự phân tích và
phân biệt cụ thể.
Đối với Nguyễn Du đó
chỉ là chiếc gối cho tâm hồn quá mỏi mệt, là nơi an lánh để khỏi bị bám víu bởi
bụi bặm ở đời, Nguyễn Du không coi đó là cái đích cuối cùng và cũng không bằng
lòng lâu với món ăn tinh thần khốn quẩn ấy”. [11;22]
Chính vì thế, ta có
thể kết luận rằng, nhìn ở góc độ nào đó thuyết tài mệnh tương đố, hồng nhan bạc
phận mà Nguyễn Du nêu ra là xuất phát từ thuyết tạo hoá bù trừ, âm dương biến
đổi của Lão giáo nhưng Nguyễn Du đã cảm nhận và giải thích nó bằng quan niệm
rất riêng. Nguyễn Du không hề rơi vào duy tâm hay bi quan như Lão Tử. Mặc dù
trong tác phẩm có nhiều câu phát biểu trực tiếp của tác giả còn gọi là lời trữ
tình ngoại đề mang tính siêu hình nhưng qua hệ thống hình tượng nhân vật ta
thấy lời phát biểu của tác giả với tư tưởng tác phẩm mâu thuẫn nhau. Cho nên có
thể nói, Nguyễn Du là một nhà tư tưởng không triệt để. Nguyễn Du đã từng bảo
rằng “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Cuối cùng Nguyễn Du lại than
một câu:
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một
vần.
Nhà thơ đã nhận ra
cuộc đời là thế. Cuộc đời là sự tranh quyền đoạt thế, lòng ích kỉ của con người
làm cho họ sẵn sàng hãm hại nhau, mà người có tài luôn là cái gai trong mắt của
những kẻ tiểu nhân. Một xã hội phản động luôn tìm cách loại trừ những bậc tài
năng. Thế nên, chúng tôi rất đồng tình với Đỗ Đức Dục: “Trong xã hội phong
kiến, tài được quan niệm một cách trừu tượng mà mệnh là một yếu tố siêu nhiên,
và trong vấn đề xung đột giữa tài và mệnh gắn liền với thuyết như Hồng
nhan bạc mệnh, Bỉ sắc tư phong mang tính chất trừu tượng và siêu hình, đó là
mâu thuẫn giữa cá nhân tài năng với xã hội, rồi đi đến chỗ chung hơn nó được mở
rộng thành vấn đề mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội… Cuối cùng, về thực chất đó
là quyền sống của con người và chế độ xã hội.
Tựu trung, Truyện Kiều
mà Nguyễn Du muốn thu hẹp vào chủ đề “Tài mệnh ghét nhau” có ý nghĩa khách
quan, ý nghĩa xã hội rộng lớn vượt xa chủ đề đó, vượt xa tư tưởng chủ quan của
tác giả, nó đề cập đến vấn đề quyền sống của con người trong xã hội phong kiến”[3;80]. Nghĩa là, nếu Lão Tử xem những bất
công ở đời là một quy luật thì Nguyễn Du xem hồng nhan bạc phận, tài mệnh tương
đố là một tai hoạ mà nạn nhân thường là người phụ nữ. Đó là giá trị nhân đạo
của tác phẩm.
Lại có lúc Nguyễn Du
cho rằng, tài sắc đôi khi cũng giúp con người rất nhiều. Nhờ tài sắc Kiều mới
có thể bán mình chuộc cha, nhờ tài sắc Kiều mới được Thúc Sinh, Từ Hải chuộc
thân, nhờ tài đức mà Kiều được Thúc ông cho làm lẽ Thúc Sinh, Hoạn Thư thương
tình… Từ đó cho thấy, xã hội Truyện Kiều toàn là những người
xem trọng tài hoa. Với ý nghĩa này, giá trị phê phán hiện thực của tác phẩm
giảm đi rất nhiều. Thế nên, một lần nữa có thể khẳng định: xét về mặt tư tưởng,
Nguyễn Du là nhà tư tưởng không triệt để. Nhưng xét về lĩnh vực văn học, hiện
tượng ấy không có gì là mâu thuẫn. Bởi một tác phẩm văn học thường có nhiều
tầng ý nghĩa, một mặt nào đó nó có thể đồng tình nhưng một mặt nào đó nó cũng
có thể phê phán. Cũng như đã nói, tác giả Truyện Kiều cho rằng
xã hội luôn tìm cách vùi dập những người tài hoa nhưng qua những tình tiết
trong truyện lại nổi lên vấn đề khác. Đó là, thế giới Truyện Kiều là
thế giới của những con người có tài và con người biết trân trọng cái tài. Việc
làm khổ nhau, hãm hại nhau chẳng qua vì tiền, vì phải đấu tranh với cuộc sống.
Như vậy, xấu xa không phải là bản chất của xã hội mà là sự suy đồi của chế độ.
Về vấn đề này, GS. Lê Đình Kỵ cho rằng: “Quan niệm tài hoa và việc đề
cao tài hoa trong Truyện Kiều có mặt tiến bộ của nó, ở ý nghĩa muốn thoát
ly và chống lại sự gò bó của nếp sống phong kiến, một nếp sống bị áp đặt trong
gọng kiềm của tôn ti trật tự, trong vòng vây của đạo đức luân thường ngột ngạt.
Đó cũng là sự phản ứng, một yêu cầu được giải phóng về tư tưởng tình cảm, một
khát vọng được sống thoải mái, phóng khóang, thắm tươi trong hoàn cảnh xã hội
không đếm xỉa gì đến nhu cầu tinh thần và tình cảm cá nhân. Nhân dân bao giờ
cũng nhìn mọi biểu hiện tài năng một cách đồng tình. Vì tài năng xét đến cùng
là bắt nguồn từ sinh hoạt và tiềm lực của quần chúng lao động, huống hồ trong
biểu hiện tài năng ở đây còn có mặt khao khát được cởi mở tâm hồn, được vươn
tới, được tự do phát triển”. [11;65].
Như thế, Đỗ Đức Dục và
Lê Đình Kỵ gặp nhau ở chỗ cả hai đều cho rằng, “tài mệnh tương đố”, “hồng nhan
bạc mệnh” là vấn đề mà Nguyễn Du đưa ra nhằm khẳng định quyền sống của con
người trong xã hội phong kiến.
Qua đó, ta cũng thấy
rằng ở thế kỉ XVIII, số phận, hạnh phúc của người phụ nữ được bênh vực công
khai bằng lời lẽ vừa bi ai, vừa quyết liệt. Có thể xem đây là mầm móng cho tinh
thần hiện thực phê phán sau này. Nhưng ở thời đại bấy giờ, Nguyễn Du chỉ dừng
lại ở mức độ đồng tình với những mảnh đời bất hạnh, thông cảm cho họ và phê
phán xã hội chứ chưa tìm ra giải pháp giải phóng họ. Nhìn thấy những bất công
để rồi căm phẫn, không giải quyết được bất công để rồi bất lực, bi quan, rồi
lại rơi vào chủ nghĩa định mệnh. Đó là trường hợp của Nguyễn Du.
1.1.2 Định mệnh – hạn
chế trong tư tưởng Nho gia cũng là hạn chế trong tư tưởngTruyện Kiều:
Nếu đi tìm tư tưởng
định mệnh ở Nguyễn Du thì không đâu bằng tìm ở Truyện Kiều. Như đã
nói thuyết “tài mệnh tương đố” không bao trùm hết số phận các nhân vật trong Truyện
Kiều. Thế giới của Truyện Kiều là thế giới của những con
người có tài: tài hoa, tài trí dũng, tài trí xảo. Nhưng không phải ai có tài
cũng đều bất hạnh, như: Kim Trọng, đại thần Hồ Tôn Hiến, Vương Quan, Thuý Vân
đều là những kẻ có tài, người có sắc nhưng số phận không nghiệt ngã đối với họ.
Nguyễn Du đã lí giải điều này dựa trên thuyết định mệnh của Nho gia. Đây cũng
là một học thuyết bất công mà con người tỏ ra bất lực:
Bắt phong trần phải
phong trần
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao.
Điều này có nghĩa là số phận con người đã được giới tối cao định sẵn, “tử
sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, sống chết có số, giàu sang do trời. Cho
nên, “vạn sự bất do nhân kế hiệu, nhất sinh đô thị mệnh an bài ”
[7;46], mọi việc chẳng do người toan tính bởi cả đời người đều được số mệnh an
bài.
Theo GS. Lê Đình Kỵ:
“Một mặt chủ nghĩa định mệnh của Truyện Kiều bắt nguồn từ tư tưởng thiên mệnh
của đạo Nho…Mặt khác, chủ nghĩa định mệnh của Nguyễn Du cũng đồng thời bắt
nguồn từ tư tưởng luân hồi nhân quả của nhà Phật”. Còn bài viết của Tạ Ký
trong Việt Nam thi văn trích giảng thì cho rằng: “Chúng ta
không nên lầm định mệnh với thiên mệnh của Nho giáo. Trời theo quan niệm Nho
giáo không phải là ông trời của Định mệnh thuyết” [11;64].
Nhưng việc xác định
nguồn gốc của một học thuyết tư tưởng có ý nghĩa gì chăng? Tại sao các nhà
nghiên cứu thường hay đi tìm nguồn gốc của chúng?
Nếu như các triết gia
đi từ những hiện tượng riêng lẻ để đi đến khái quát chúng thành qui luật thì
các nhà nghiên cứu đi ngược lại. Nghĩa là, nhà nghiên cứu đi từ những thuộc
tính, những biểu hiện của hiện tượng rồi quy hiện tượng ấy vào quy luật chung,
dựa vào quy luật chung ấy mà tìm đến bản chất của hiện tượng và tiến hành lí
giải chúng. Chẳng hạn, ta cho câu tục ngữ “hễ gieo gió thì gặt bão”là
học thuyết nhân quả của nhà Phật thì ta có thể dựa vào thuyết ấy mà lí giải câu
tục ngữ trên.
Một ý thức hệ ra đời
là xuất phát từ cách phân tích, đánh giá của con người ở một thời đại nhất
định, xuất phát từ một thực tại xã hội nhất định. Nói rộng ra, một thượng tầng
kiến trúc chỉ phù hợp với một cơ sở hạ tầng nhất định. Đứng trên lập trường
quan điểm khác nhau sẽ có cách đánh giá khác nhau. Sở dĩ tư tưởng đạo đức Nho
gia không vạch trần được tội ác trong cuộc sống hiện thực của con người, không
phân tích chúng một cách sâu sắc bởi Nho giáo nhìn nhận cuộc sống bắt nguồn từ
cái thiện, “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Mọi học thuyết của Nho giáo đều
nhằm mục đích duy nhất là hướng con người vào cái thiện. Còn Phật giáo nhìn
cuộc sống con người ở chữ “si” (ngu si, vô minh) và do vô minh mà con người cứ
bị quay vòng trong chữ khổ. Học thuyết nhà Phật ra đời cốt yếu nhằm giải trừ
nỗi khổ cho con người.
Bởi thế, nếu xác định
thuyết định mệnh vừa bắt nguồn từ tư tưởng thiên mệnh của Nho gia vừa bắt nguồn
từ tư tưởng luân hồi nghiệp báo của nhà Phật thì đó là một mâu thuẫn lớn. Theo
Phật giáo, mệnh do nghiệp mà ra, nghiệp tốt thì hưởng mệnh tốt, nghiệp xấu thì
hưởng mệnh xấu. Nghĩa là con người hoàn toàn có khả năng quyết định vận mệnh của
mình, mình muốn tương lai được tốt thì hiện tại phải làm việc tốt. Định mệnh
không làm người ta bi quan mà hướng con người làm việc tốt nhằm giải khổ cho
con người. Nho giáo thì ngược lại. Tư tưởng thiên mệnh dạy con người phải biết
“uý thiên mệnh”, sợ mệnh trời và phục tùng số mệnh. Bởi “Đấng hiền xưa nói
rằng: Những người biết mệnh thì thấy lợi lộc cũng chẳng động lòng tham, đến lúc
phải chết cũng chẳng oán, mệnh cho một ngày thì sống một ngày, mệnh cho một giờ
thì sống một giờ, dù nhanh hay chậm thì nẻo trước cũng bấy nhiêu đường mà thôi
(nghĩa là số mạng đã định trước thì dù lâu hay mau cũng sẽ đến nơi đó). Thời mà
lại thì dầu cao như gác Đằng Vương gió cũng sẽ đến, vận mà qua thì có vững như
bia Tiến Phúc sấm cũng đánh ngã”.
(Tích hiền viết: tri
mệnh chi nhân, kiến lợi bất động, lâm tử bất oán, đắt nhất nhật quá nhất nhật,
đắt nhất thời quá nhất thời, khẩn hành , mạn hành, tiền trình chỉ hữu hứa đa
lộ. Thì lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi). [7;49]
Định mệnh của Nho giáo
là qui luật định sẵn, con người không có khả năng chống lại. Nho giáo bắt con
người phục tùng tuyệt đối số mệnh của mình. Người làm quan thì cứ lo an phận
làm quan đừng mơ mộng đổi đời làm vua vì anh ta đâu có số làm vua, còn người đã
có số làm vua thì dù có trốn tránh thế nào cũng sẽ làm vua. Thuyết định mệnh ấy
nhằm mục đích duy nhất là ổn định trật tự xã hội.
Tóm lại, nếu định mệnh
bắt nguồn từ tư tưởng nghiệp báo luân hồi của nhà Phật thì ta có thể thay đổi,
còn tư tưởng định mệnh bắt nguồn từ tưởng thiên mệnh của Nho gia thì ta không
thể thay đổi, phải phục tùng.Vậy với Nguyễn Du, định mệnh có thể thay đổi được
chăng?
Như ta biết, ảnh hưởng
tư tưởng định mệnh trong Truyện Kiều còn rất mạnh. Tư tưởng đó
được ông thầy tướng số bày ra trước, Đạm Tiên tiếp tục củng cố và phát triển,
cuối cùng người tổng kết lại chính là sư vãi Giác Duyên. Có lẽ trong con người
thi sĩ Nguyễn Du có niềm tin nơi định mệnh ở một mức độ nào đó. Con người chúng
ta, nhất là những lần thất bại trong cuộc sống, chúng ta thường trở nên bi quan
và đổ lỗi cho định mệnh, cho số trời. Đó cũng là tâm lí chung nhằm giúp con
người được chút an ủi khi thất bại. Ở xã hội thời Nguyễn Du, những bất công,
những đổi thay của xã hội, của lịch sử cứ liên tục diễn ra mà con người không
lí giải nổi, cho nên Nguyễn Du tin vào định mệnh là lẽ đương nhiên. Đó không
chỉ là đức tin của Nguyễn Du mà còn là đức tin chung của thời đại, của Nho sĩ
thời bấy giờ. Cũng như Nguyễn Huệ đã dựa vào lực lượng nông dân để để làm nên
sự nghiệp lẫy lừng, nhưng khi lên ngôi thì Ngô Thì Nhậm lại viết: “…
Nước Việt Nam ta từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây dựng ra nước cho đến nay, thánh minh
dấy lên không phải vì một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn vận mệnh do trời không
phải do người tạo ra.” [ Dẫn theo 11;71]
Có thể nói tư tưởng
thiên mệnh một mặt là sản phẩm của xã hội phong kiến, một mặt là công cụ để
quan lại phong kiến dùng để duy trì trật tự xã hội. Nhưng Truyện Kiều của
Nguyễn Du không nhằm mục đích tuyên truyền, mị dân giúp cho chế độ lúc bấy giờ
mà nổi trội là ý nghĩa phê phán và buộc tội xã hội. Tuy vậy, thuyết định mệnh
cũng làm cho Truyện Kiều rơi vào một vài hạn chế và cũng là
mâu thuẫn lớn trong con người Nguyễn Du. Một mặt, ông phê phán định mệnh, một
mặt lại rất tin vào định mệnh. Và dường như với quan niệm Nguyễn Du, phụ nữ là
người chịu sự áp đặt khắt khe nhất của định mệnh:
Hồng quân với khách
hồng quần,
Đã xoay đến thế còn
vần chưa tha.
Hay:
Đau đớn thay phận đàn
bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng
là lời chung.
Từ Đạm Tiên đến Thuý
Kiều và cả Thuý Vân cũng chịu sự chi phối của định mệnh. Nhưng khác nhau là Đạm
Tiên và Thuý Vân là những người thuận theo mệnh mà sống, còn Thuý Kiều là người
luôn chống lại định mệnh.
Đạm Tiên sau khi chịu
số hồng nhan bạc phận thì chịu yên theo kiếp “làm ma không chồng”, chịu yên
theo bổn phận làm sứ giả truyền lời phán quyết của Hội chủ hội đoạn trường đến
Kiều. Nàng không một chút than van, không một lời kể khổ. Có lẽ tuân theo mệnh
trời, biết an phận con người sẽ không khổ. Kết luận này được chứng minh bằng sự
đối lập giữa cuộc đời Thuý Kiều và Thuý Vân. Kiều và Vân cùng sinh trong gia
đình gia giáo, cùng là những kẻ tài hoa, sắc nước hương trời. Nhưng cuộc đời
Vân không vướng lấy cái khổ, bởi lẽ nàng là người nhất nhất tuân theo số mệnh.
Vân vốn không yêu Kim Trọng, nhưng khi Kiều trao duyên Vân vẫn nhận lời. Vân
nhận lời với một thái độ cam chịu, phó mặc hạnh phúc cho định mệnh. Vân thừa
nhận mình nhận duyên là bởi:
Chuộc cha chị lỗi
duyên này,
Thôi đành duyên chị
sau này thay em!
Tiếng “thôi đành” mà
Vân cất lên, ta nghe như lời cam chịu đến nghẹn ngào. Bởi lẽ, điều mà Kiều trao
là tình duyên – một thứ mà xưa nay không ai lại trao gởi , chia sẻ – mà lại là
một chút duyên thừa. Nếu người trao duyên đã đau khổ đến ngất đi thì người chấp
nhận mối duyên thừa ấy trong lòng cũng chết lịm. Người trao duyên đau khổ đã
đành, người “chấp mối duyên thừa” cũng vô vàn khó xử. Nguyễn Du đã đặt Vân vào
tình cảnh trái ngang hơn ngàn ngang trái. Vì biết đâu Kim Trọng không yêu
Vân, biết đâu hạnh phúc cả đời Vân sẽ tan vỡ vì tình yêu Kiều luôn ám ảnh
trong tâm trí chàng Kim?
Thế nhưng với Nguyễn
Du, niềm lo lắng ấy không tồn tại, tất cả đều được sự dàn xếp ổn thoả của định
mệnh. Ông cho rằng, con người sẽ không buồn lo, đau khổ nếu họ biết tuân theo
mệnh trời. Và như thế, Vân trải qua cuộc sống gia đình êm ấm vì lúc nào Vân
cũng giữ tròn bổn phận. Mặc dù, Kim Trọng sống bên Vân nhưng tâm hồn lúc nào
cũng nghĩ về Kiều còn Vân không hề ghen tuông vì biết mình chỉ là kẻ thế thân.
Định mệnh đã bắt Vân phải chịu cuộc đời như vậy. Nếu Vân không có cái tư tưởng
thuận mệnh thì có lẽ Vân sẽ luôn dằn vặt, tâm hồn lúc nào cũng không yên vì tủi
phận, vì ghen tuông! Nhưng điều đó không xảy ra vì an phận đã làm Vân thanh
thản với cuộc sống. Vân chỉ biết cúi đầu nhất nhất tuân theo. Định mệnh bắt Vân
“chấp mối duyên thừa” thì Vân cứ nhận, định mệnh bắt Vân trả duyên thì Vân trả
duyên. Vân không một lời oán than, không một phút ngại ngần. Vân là mẫu người
phụ nữ lí tưởng nhất của thời đại phong kiến. Vân biết im lặng khi cần im lặng
và biết lên tiếng khi cần lên tiếng. Đó là lúc Vân nói lời trả duyên. Vân lên
tiếng là hợp lí nhất, vì:
+ Kiều trao duyên cho
Vân thì Vân là người trả duyên mới đúng.
+ Kim Trọng không thể
là người đưa ra yêu cầu kết duyên với chị của vợ mình.
+ Gia đình cũng không
thể đứng ra tác hợp cho Kim Kiều vì như thế là bức ép Vân, Vân một lần nữa phải
chịu thiệt. Kiều sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó.
Cho nên, ta thấy hình
như Nguyễn Du đã trăn trở rất nhiều, cân nhắc rất nhiều khi để Vân
trả duyên. Thực chất trả duyên hay nhận duyên không không phải cái quyền Vân
được tự do lựa chọn, mà tất cả đều đã được sắp đặt sẵn của định mệnh. Điều này
Kiều cũng đã được Đạm Tiên mách cho biết khi nàng tự vẫn ở sông Tiền Đường. Đạm
Tiên đã cho Kiều biết:
Còn nhiều hưởng thụ về
sau,
Duyên xưa đầy đặn phúc
sau dồi dào.
Như vậy là duyên tái hợp ấy là ở ý trời. Vân cũng thừa nhận :
Rằng: “ Trong tác hợp cơ trời
Hai bên gặp gỡ một lời
kết giao…”
Nghĩa là việc tác hợp lại là ở cơ trời, Vân hay Kiều đều không phải là
người quyết định. Vân thừa nhận rằng ngày xưa chỉ vì:
Gặp cơn bình địa ba
đào
Mới đem duyên chị buộc
vào thay em.
Nhưng mà :
Bây giờ gương vỡ lại
lành,
Khuôn thiên lừa lọc đã
đành có nơi.
Cho nên, việc Kim Kiều hợp lại là một lẽ tất nhiên. Điều này đã được trời định
rồi. Trời “Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần
thanh cao”. Cuộc sống chúng ta chịu rủi ro hay nhận phần nhàn hạ, hạnh phúc
đều được một lực lượng huyền bí quyết định rồi. Con người nếu tuân theo, an
phận theo thì không thấy gì là đau khổ; còn nếu cố đấu tranh cũng chỉ chuốc lấy
khổ đau vì không thể nào thoát khỏi số mệnh. Con người có cố gắng vùng vẫy, mưu
mô nhiều rốt cuộc cũng thấy mình bị kẹp trong gọng kìm định mệnh. Thuý Kiều đã
rơi vào trường hợp ấy. Lúc nhỏ Kiều đã được ông thầy tướng số mách rằng:
Anh hoa phát tiết ra
ngoài,
Khi Kim Trọng nghe Kiều giải bày niềm lo lắng thế, chàng trấn an rằng “Xưa
nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Nhưng cuộc đời Kiều có “thắng thiên”
được không? Mới êm ấm hạnh phúc đó, mới thề nguyền chung thuỷ đó rồi gia biến,
rồi Kiều trở thành người vong phụ. Mời sống cuộc sống khuê các đó rồi phút chốc
lại trở thành cô gái phong trần. Và trong suốt 15 năm lưu lạc, Kiều không ngừng
đấu tranh với số mệnh nhưng không lần nào thắng. Lần đầu tiên, Kiều định chết
vì biết “Phẩm tiên rơi đến tay hèn”, nhưng sợ Mã Giám Sinh làm khó song
thân nên cam chịu:
Nỗi mình âu cũng giãn
dần,
Rồi Kiều tự tử thật khi biết mình rơi vào nhà chứa của mụ Tú Bà nhưng lại được
cứu sống và được Đạm Tiên mách bảo:
Rỉ rằng: “Nhân quả dở
dang,
Đã toan trốn nợ đoạn
trường được sao?
Số còn nặng nghiệp má
đào,
Người dù muốn quyết,
trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu
bồ,
Sông Tiền Đường sẽ hẹn
hò về sau…”
Thế là con đường chống đối số mệnh bằng cách huỷ thân không còn thực hiện được
vì trời đã định Kiều phải sống, còn số mệnh Kiều sẽ được giải quyết khi Kiều
đến sông Tiền Đường. Cho nên, những lần vấp ngã sau Kiều không còn nghĩ đến cái
chết mà cố giữ cho mình cái tâm thanh tĩnh. Ý thức về nhân phẩm thúc giục Kiều
phải luôn chống đối với hoàn cảnh, chống đối lại số mệnh. Và như đã nói, chống
mệnh chỉ tự làm khổ mình. Nếu Kiều cứ yên phận sống ở lầu Ngưng Bích, không có
ý định trốn thoát thì đâu bị Sở Khanh lừa và phải tiếp khách, để rồi phải sống
những ngày tủi nhục:
Khi sao phong gấm rủ
là,
Giờ sao tan tác như
hoa giữa đàng.
Mặt sao dày gió dạn
sương,
Thân sao bướm chán ong
chường bấy thân.
Cũng như không phải vì muốn yên phận với cuộc sống làm lẽ để mong một chút hạnh
phúc nhỏ nhoi, thì không tội gì Kiều khuyên Thúc Sinh về gặp Hoạn Thư, để rồi
phải rơi vào tình huống nghẹn ngào:
Hai bên giáp mặt chiền
chiền,
Muốn nhìn mà chẳng dám
nhìn, lạ thay!
Cuộc đời lưu lạc của Kiều, những tình huống thế này cứ lặp lại như một công
thức. Kiều cố vượt qua đau khổ này thì cứ mãi gặp đau khổ khác. Kiều muốn trốn
khỏi sự ghen tuông của Hoạn Thư nên rời khỏi Quan Âm các. Nhưng ra khỏi Quan Âm
các lại rơi vào lầu xanh. Cảnh ghê rợn ở lầu xanh luôn ám ảnh nàng. Nàng khiếp
sợ nó đến mức chỉ cần có cơ hội thoát khỏi là nàng không hề từ bỏ và nếu đã rời
khỏi chốn đó thì nàng tìm mọi cách để không phải quay vào. Cho nên, khi Hồ Tôn
Hiến chiêu hàng, nàng đã nhận lời vì nàng nghĩ làm mệnh phụ của triều đình thì
không thể nào trở lại chốn ấy nữa, Kiều nghĩ:
Nghĩ mình mặt nước
cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại
nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng
vương thần,
Thênh thang đường cái
thanh vân hẹp gì.
Công, tư vẹn cả hai
bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về
cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ
ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì
nhà,
Một là đắc hiếu, hai
là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách
giữa dòng,
E dè bão tố, hãi hùng
phong ba.
Giữa cái xã hội xô bồ, lòng người bạc ác, Kiều thường hay nghi ngờ cho nên
những kẻ gian ác thường hay thề thốt để nàng tin. Nhưng dường như với Hồ Tô
Hiến, Kiều có một sự tin tưởng nhất định vì ít ra hắn cũng là đại diện của
triều đình mà triều đình là đại diện của nhân dân, là nơi “thiên tử” ngự. Lòng
trung nghĩa của Kiều không cho phép nàng nghi ngờ tên trọng thần này. Chính vì
thế mà hắn có cơ hội thể hiện cái bỉ ổi của mình: lợi dụng Kiều để lập công,
dùng thủ đoạn xấu xa để đưa Kiều vào đường bất nghĩa:
Giết chồng mà lại lấy
chồng,
Mặt nào mà lại sống
trong cõi đời?
Đây không chỉ là nỗi nhục nhã, xấu xa mà còn là một tội lỗi. Sự đau đớn này
giúp Kiều nhận ra, càng chống đối lại số mệnh thì càng chịu nhiều oan trái. Số
mệnh đã chơi khâm nàng, nàng chỉ biết chọn cái chết để giải thoát:
Thôi thì một thác cho
rồi,
Tấm lòng bỏ mặc trên
trời dưới sông!
Lần này Kiều quyết định tự vẫn vì:
Nhớ lời thần mộng rõ
ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn
tràng là đây!
Đạm Tiên nàng hỡi có
hay?
Hẹn ta thì ở dưới này
rước ta.
Cuối cùng Kiều cũng tuân theo số mệnh. Kiều chỉ chống lại những cái mệnh, những
điều oan trái do con người gây ra, nhưng cuối cùng phải phục tùng cái mệnh do
trời sắp đặt. Mặc dù, chống đối của Kiều không quyết liệt mà có phần nhượng bộ,
nhưng nó có ý nghĩa rất lớn trong tác phẩm. Nó khẳng định Kiều là người luôn có
ý thức về nhân phẩm của mình, luôn vươn lên trong cuộc sống để “gần bùn
mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Điều này đã làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác
phẩm.
Nguyễn Du quá tin vào
số mệnh. Suốt câu chuyện nhiều lần Nguyễn Du cho nhân vật của mình tin vào số
mệnh. Chẳng hạn, khi Kiều mộng thấy Đạm Tiên đến báo nàng có tên trong sổ đoạn
trường thì nàng đã đau khổ:
Cứ trong mộng triệu mà
suy,
Phận con thôi có ra gì
mai sau!
Hay là lúc nàng chia tay với Giác Duyên, hai người đã trao đổi:
Nàng rằng: “Thiên tải
nhất thì
Cố nhân đã dễ mấy khi
bàn hoàn.
Rồi đây bèo hợp mây
tan,
Biết đâu hạc nội mây
ngàn là đâu!”
Sư rằng: “Cũng chẳng
mấy lâu,
Trong năm năm lại gặp
nhau đó mà.
Nhớ ngày hành cước
phương xa,
Gặp sư Tam Hợp, vốn là
tiên tri.
Báo cho hội ngộ chi
kỳ,
Năm nay là một, nữa
thì năm năm.
Mới hay tiền định
chẳng lầm,
Đã tin điều trước ắt
nhằm việc sau.
Còn nhiều ân ái với
nhau,
Cơ duyên nào đã hết
đâu, vội gì?”
Nàng rằng: “Tiền định
tiên tri,
Lời sư đã dạy ắt thì
chẳng sai.
Hoạ bao giờ có gặp
người,
Vì tôi cậy hỏi một lời
chung thân”.
Nhờ sự tin tưởng vào thiên cơ ấy mà Kiều được cứu vớt khi nhảy sông Tiền
Đường tự vẫn. Đó là do Tam Hợp báo cho Giác Duyên:
Giác Duyên dù nhớ
nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè
lau vớt người.
Trước sau cho vẹn một
lời,
Duyên ta mà cũng phúc
người chi không!
Giác Duyên nghe nói
mừng lòng,
Lân la tìm thú bên
sông Tiền Đường.
Và trong truyện lại có rất nhiều nhân vật thuộc loại hình nhân vật chức
năng bói toán. Như ông thầy tướng số chỉ xuất hiện để coi bói cho Kiều, ông
thầy pháp chỉ xuất hiện để báo cho Thúc sinh biết cái điều oan trái của Kiều,
Đạm Tiên đến báo cho Kiều biết nàng đã có tên trong sổ đoạn trường và cho nàng
biết lúc nào thì chưa thể chết và lúc nào thì chết được, còn sư Tam Hợp thì
xuất hiện để báo cho Giác Duyên thời gian, địa điểm để cứu Kiều. Cho nên, định
mệnh không chỉ là hạn chế trong tư tưởng nhà Nho hay hạn chế trong tư tưởng
Nguyễn Du mà còn làm cho các nhân vật trong truyện thiếu tính chân thật. Như
Thuý Vân, nàng sống theo chương trình được cài đặt ở “cơ trời”. Điều này làm
cho Thuý Vân trở nên một cô gái không có đời sống nội tâm và thiên truyện bị
hạn chế ở mặt miêu tả tâm lí của một số nhân vật. Như đã phân tích, có những
chỗ đúng ra phải làm rõ nội tâm của Vân nhưng Nguyễn Du không hề chạm tới.
Định mệnh vừa là hạn
chế trong tư tưởng Nguyễn Du vừa là hạn chế của Truyện Kiều. Tuy
vậy, nó lại không ảnh hưởng đến giá trị chung của tác phẩm. Định mệnh được
Nguyễn Du đưa ra nhằm nói lên sự bất lực của con người cá nhân trong xã hội
phong kiến, tố cáo sự tàn nhẫn của xã hội đối với hạnh phúc của con người. Đó
là giá trị hiện thực của tác phẩm. Nhưng tư tưởng định mệnh lại làm cho tác
phẩm chỉ dừng lại ở giá trị tố cáo hiện thực, nêu lên mâu thuẫn xã hội mà không
đi đến đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Hạn chế của Nguyễn Du là khi ông cho
rằng mọi sự khổ đau sẽ được giải quyết bằng cách phấn đấu tu tâm chứ không bằng
cuộc đấu tranh để thay đổi thực tại. Cuộc nổi dậy của Từ Hải chỉ là sự
đấu tranh tự phát, chỉ là nỗi bức xúc của người không chịu nổi những bất
bình trong xã hội, chỉ là muốn thể hiện chí tung hoành của một người
thích tự do. Cái chiến thắng của Từ Hải chỉ là để giúp Kiều báo ân báo oán chứ
chưa thật sự đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Nói đúng hơn, sự nổi dậy của
Từ Hải chỉ vì lợi ích cá nhân mà thôi. Cho nên, Từ Hải mới chấp nhận lời khuyên
hàng của Hồ Tôn Hiến. Vì vậy, sự nổi dậy này chỉ tát vào mặt chế độ phong kiến
cho hả giận chứ không đe doạ sự tồn vong của chế độ. Nghĩa là, Nguyễn Du đã
trừng phạt bọn bất lương chứ không muốn thay đổi chế độ. Đó là hạn chế trong tư
tưởng thời đại Nguyễn Du.
Xét thái độ của Nguyễn
Du đối với tư tưởng định mệnh thì lại thấy ông rất mâu thuẫn. Lúc thì ông cho
rằng mọi việc trời định sẵn, con người chỉ việc tuân theo, lúc thì lại bảo rằng
con người không hoàn toàn bất lực trước số mệnh vì “có trời mà cũng có ta”,
trời quyết định cuộc đời ta, nhưng ta cũng quyết định không ít đến số mệnh của
mình. Dù số trời bắt ta bạc mệnh nhưng ta cố hành thiện giúp đời trời sẽ mang
lại phúc lành đến cho ta. Như vậy, định mệnh mà Nguyễn Du nêu ra không phải là
quy luật bất biến như trong tư tưởng Nho gia mà nó đã chịu sự ảnh hưởng của
thuyết nhân quả nhà Phật.
1.1.3 Luật
nhân quả – triết lý về sự công bằng của nhà Phật:
Trong Truyện
Kiều một triết lí khá rõ rệt là nhân quả luân hồi. Tuy không phải Truyện
Kiềuđược Nguyễn Du viết nhằm rao giảng triết lí nhà Phật nhưng rõ ràng
thuyết nhân quả nghiệp báo chi phối rất nhiều đến thiên truyện.
Nghiệp theo nhà Phật
là hành động, nghiệp là những việc làm trước kết thành cái quả sau, nghiệp
tương đương với chữ nhân trong nhân quả (nhân là căn nguyên, là nguồn gốc của
sự vật hiện tượng). Con người gây nghiệp ở quá khứ thì kết thành cái nghiệp ở
hiện tại, cái nghiệp gây ở hiện tại thì kết thành quả ở tương lai. Bất cứ hành
động hay tác động gì ở nội giới hay ngoại giới đều có hậu quả nhất định gọi là
nghiệp. Nghiệp có thiện nghiệp (kasala), có ác nghiệp (akusala). Thiện nghiệp
tức nghiệp tốt đưa đến quả báo tốt, ác nghiệp hay nghiệp xấu đưa đến quả báo
xấu. Đó là sự công bằng tuyệt đối của thuyết nhân quả.
Theo Trần Trọng Kim, Truyện
Kiều của Nguyễn Du đã vân dụng cái thuyết này để giải thích toàn bộ
cuộc đời vui khổ của nàng Kiều. Đem cái thuyết này mà so với cuộc đời Kiều thì
ta thấy không chỗ nào là không phù hợp. Nguyễn
Du đã giải thích được
tại sao Kiều lại phải chịu cảnh hồng nhan bạc mệnh. Như đã nói, đó là do định
mệnh. Nhưng định mệnh chỉ nêu lên kết quả mà không giải thích được nguyên nhân
của điều bạc mệnh kia là do đâu. Nguyễn Du đã bổ khuyết vấn đề này bằng thuyết
nhân quả nghiệp báo của nhà Phật. Căn cứ vào đấy, ông giải thích nỗi khổ của
Kiều là do chính Kiều:
Đã mang lấy nghiệp vào
thân,
Cũng đừng trách lẫn
trời gần trời xa.
Kiều đã có nghiệp sẵn trong mình, cho nên tự lời nói đến tiếng đàn đánh ra đều
có cái giọng đau đớn sầu khổ. Và điều sầu khổ kia đã được Đạm Tiên mách trước:
Vâng trình hội chủ xem
tường,
Mà xem trong sổ đoạn
trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân
duyên,
Cùng người một hội một
thuyền đâu xa.
Thế nên, kiếp sống của Kiều là để trả cái nghiệp nàng gây lúc trước. Việc
tình duyên dang dở,
cửa nhà tan nát, phải bán mình làm lẽ… bao nhiêu cái cực nhục ấy chỉ xoáy sâu
vào mục đích là làm cho Kiều khổ để xứng với cái nghiệp đoạn trường mà nàng đã
gây. Vì cái nghiệp nó quấn chặt Kiều nên phải chịu muôn vàn cay đắng, như Kiều
không làm lẽ mà rơi vào nhà chứa, bị Sở Khanh lừa nên phải tiếp khách làng
chơi, ngỡ được hạnh phúc bên Thúc Sinh thì lại bị Hoạn Thư hành hạ, ngỡ được
vinh quang cùng Từ Hải thì lại mang tiếng giết chồng. Đúng là cái nghiệp đã làm
cho Kiều gặp “hết nạn nọ đến nạn kia”.
Như vậy, với ý kiến
của Trần Trọng Kim thì Nguyễn Du đưa ra luật nhân quả chỉ nhằm giải thích
nguyên nhân nỗi khổ của Kiều. Nguyên nhân đó là do Kiều thuộc tính người đa sầu
đa cảm, “Phong lưu rất mực hồng quần” và:
Lại mang lấy một chữ
tình,
Khư khư mình buộc lấy
mình vào trong.
Chỉ có nguyên
nhân như thế mà Kiều phải chịu bao nhiêu là đày đoạ, khổ đau. Điều
này gợi cho người đọc, ai ai cũng động lòng thương. “Thương cái số kiếp con
người ta chìm nổi ở chỗ mờ tối, vì mê muội mà gây cái ác nghiệp cho mình.
Thương con người thông minh, hiếu nghĩa mà cứ gặp nhiều gian truân”
[4;554]. Đó là giá trị nhân đạo mà Truyện Kiều đạt được khi
vận dụng thuyết nhân quả vào việc thể hiện tư tưởng của truyện.
Cao Huy Đỉnh cho rằng
triết lí đạo Phật ở đây đã thể hiện thế giới quan tiêu cực thời bấy giờ. “Trong
cái khối thế giới quan tiêu cực hỗn hợp của Truyện Kiều, triết lí Phật chiếm một
liều lượng lớn, vì chất bi quan yếm thế của nó dễ diễn tả nhất những nỗi day
dứt siêu hình trong tâm trạng con người, nhất là người phụ nữ, nạn nhân cực khổ
nhất thời phong kiến, càng là nạn nhân cực khổ nhất thời đại Nguyễn Du”
[4;554]. Vì vậy, luật nhân quả nghiệp báo như bị Nguyễn Du lật ngược lại để
nhằm khẳng định “Nghiệp báo là cái khổ kiếp trước do nàng Kiều để lại hay là
cái khổ do xã hội tàn nhẫn, trong đó nàng đang sống, gây ra?” [4;557]. Đó
là ý nghĩa hiện thực khi thuyết nhân quả ứng chiếu vào Truyện Kiều.
Ý nghĩa của nó không
chỉ dừng lại ở đây. Khi đem luật quả báo luân hồi vào Truyện Kiều,
Nguyễn Du còn nhằm khẳng định sự công bằng tuyệt đối của thuyết nhân quả, đồng
thời nói lên ước mơ về xã hội công bằng, công lý của con người thời bấy giờ.
Nói đến công bằng,
công lý, người ta thường xếp vào “khuôn” lý tưởng hoá đời sống. Tuổi trẻ con
người thường không tin có sự công bằng tồn tại, càng không thể tin có luật quả
báo luân hồi. Bởi lẽ, họ thấy trong xã hội có biết bao tên gian ác vẫn tồn tại,
có khi được sống cảnh giàu sang, còn những người hiếu hạnh, tài năng như Kiều
thì lại chịu khổ đau. Bất công còn đầy rẫy trong xã hội thì làm gì có thuyết
công bằng?
Nhưng nếu một người đã
từng “Trải qua một cuộc bể dâu”, chứng kiến nhiều thay đổi của cuộc đời
thì ắt hẳn sẽ tin rằng “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác
báo, nhược hoàn bất
báo, thì thần vị đáo”, lành có lành báo,
dữ có dữ báo, còn nếu chưa báo chỉ vì thời giờ chưa đến. Nguyễn Du đã tin tưởng
điều đó.
Kiều là người “hiếu
nghĩa đủ đường” nhưng lại phải chịu đau khổ vì cái nghiệp của kiếp trước mà
nàng gây ra. Kiều đã ý thức được điều đó và quyết tâm trả cho xong cái nghiệp
này. Vì Kiều nghe Đạm Tiên nói:
Rỉ rằng: “ Nhân quả dở
dang,
Đã toan trốn nợ đoạn
tràng được sao!
Số còn nặng nghiệp má
đào,
Người dù muốn quyết trời nào đã cho!…”
Thế nên, Kiều biết
mình không thể trốn nợ đoạn tràng. Và Kiều cũng rất tin tưởng tất cả hành động
của ta đều được giới tối cao ghi nhận:
Vả trong thần mộng mấy
lời,
Túc nhân âu cũng có
trời ở trong.
Vì thế mà:
Kiếp này trả nợ chưa
xong,
Làm chi thêm một nợ
chồng kiếp sau.
Kiều biết rằng trốn tránh khổ đau chỉ làm cho ta càng đau khổ. Cho nên, Kiều
chấp nhận khổ đau và tìm phương giải khổ bằng cách làm việc thiện, tu dưỡng tâm
hồn, vì Kiều biết rằng:
Đời người đến thế thì
thôi!
Trong cơ âm cực, dương
hồi khôn hay.
Mấy người hiếu nghĩa
xưa nay,
Trời làm chi đến lâu
ngày càng thương!
Cuối cùng, Kiều cũng
hưởng cảnh đoàn viên, vui vầy hạnh phúc. Điều này đã khẳng định thêm đức tin
cho con người. Trong truyện, Kiều là người hay tin nhất vào đấng tối cao. Kiều
luôn luôn tin rằng, thần linh sẽ luôn chứng giám và theo dõi mọi hành động của chúng
ta để sau này còn định bề thưởng phạt. Cho nên, Kiều không tin người khác nhưng
lại tin vào lời thề của họ, vì lời thề là lời cam kết của con người với Thần
linh. Ở Truyện Kiều, lời thề luôn có sự ứng báo. Sự công bằng trong Truyện
Kiều là một “thuyết tuyệt đối”. Những bọn lường gạt chúng không tin
điều đó, chúng xem nhẹ quỷ thần hơn tiền bạc. Cho nên, để lừa dối người khác,
chúng rất hay thề. Và lời thề của những kẻ gian trá thường giống nhau. Bọn
chúng đều lừa dối Kiều bằng lời thề:
Mã Giám Sinh từng thề:
Mai sau dầu có thế
nào,
Kìa gương nhật nguỵêt,
nọ dao quỷ thần!
Còn Tú Bà cũng không
khác:
Mai sau ở chẳng như
lời,
Trên đầu có bóng
mặt trời rạng soi!
Đến Sở Khanh cam kết
rất cương quyết:
Dầu khi gió kép, mưa
đơn,
Có ta đây cũng chẳng
cơn cớ gì!
Bạc Sinh quỳ xuống vội
vàng,
Quá lời nguyện kết
Thành hoàng, Thổ công.
Bọn chúng đúng là dối
cả thần thánh, chúng đem thần thánh ra thề một cách mạnh mẽ và quyết liệt đến
một người “khôn ngoan”, “sắc sảo” như kiều còn phải tin. Thề là mánh khoé của
người gian manh, buộc người khác thề là cái thế của người yếu ớt. Đạo Trời thì
rất công bằng, không thiên vị một ai, thề sao thì cứ ứng cho như vậy. “Bọn
người bạc ác tinh ma” ấy chỉ tồn tại nghiễm nhiên trong xã hội không bao lâu,
thời gian mà họ làm ác không bị trừng trị chỉ vì “thì thần vị đáo” mà thôi.
Cuối cùng, chúng cũng bị trừng phạt, sự trừng phạt đó chính là quả báo mà họ tự
gây nên. Cho nên, ở đoạn Kiều đền ân, báo oán, ta không hề thấy cái lòng oán
hận nào của Kiều mà chỉ thấy đó là luật công bằng của tạo hoá. Sự trừng phạt
kia chỉ là do ở đạo Trời:
Đạo Trời báo phục chỉn
ghê,
Khéo thay một mẻ, tóm
về đầy nơi!
Đúng là “lưới trời
lồng lộng tuy thưa mà khó lọt”. Con người không thể dối trời hại nhân.Thế
nên, trong Truyện Kiều đoạn đền ân báo oán diễn ra là tất yếu.
Cái hay của Nguyễn Du
đồng thời là lòng nhân đạo của ông thể hiện rõ nhất ở đoạn đền ân báo oán này.
Nếu như Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả thật tỉ mỉ, thật chi tiết, thật rùng rợn
cách trả thù của cô Kiều ở Trung Quốc thì Nguyễn Du chỉ dùng một câu “Thề
sau thì lại cứ sao gia hình”. Điều này có nghĩa là trong phiên toà xét xử,
Nguyễn Du chỉ để Kiều đóng vai trò của một sứ giả phán lời truyền của giới tối
cao:
Nàng rằng: “Lồng lộng
trời cao!
Hại nhân nhân hại sự
nào tại ta.
Nguyễn Du đã không để Kiều có cái tâm oán hận.Cũng chính cái tâm hiền từ, lòng
vị tha mà Kiều đã tha bổng Hoạn Thư – kẻ đã hành hạ Kiều đớn đau cả tâm hồn và
thể xác. Còn cô Kiều của Trung Quốc không được cái lòng độ lượng ấy, lòng cô ta
mang đầy oán hận, cô trừng trị kẻ ác cho thoả mãn sự căm thù, cô hành hạ Hoạn
Thư, bức tử Hoạn bà. Điều này khẳng định cô Kiều Trung Quốc cũng có cái lòng
oán hận, nhỏ nhen, ích kỷ một cách tầm thường như bao người tầm thường khác.
Còn nàng Kiều của ta thật thánh thiện và nhân từ! Với người thọ ơn, hết lòng
báo đáp, với kẻ bạc ác từ tốn khoan dung. Kiều là thế đấy! “Mụ già” – quản gia
nhà họ Hoạn – đã giúp nàng khi nàng bị mẹ con Hoạn Thư hành hạ. Mụ đã:
Khi chén chè, khi
thuốc thang
Đem lời phương tiện,
mở đường hiếu sinh.
Còn sư trưởng Giác
Duyên cho nàng trú ẩn khi nàng đang “lạc lối”. Chỉ thế thôi mà nàng xem như ơn
tái tạo, nghĩa nặng bằng non không gì đền đáp. Nàng rằng:
Nhớ khi lỡ bước xẩy
vời,
Non vàng chưa dễ đền
bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ
thường,
Mà lòng Phiếu Mẫu, mấy
vàng cho cân.
Khi trả ân, Kiều hết lòng. Lúc báo oán Kiều nhẹ tâm. Nếu như cô Kiều Trung Quốc
đã ra uy bằng cách giết người thật dã man để đến nỗi Hoạn bà phải chết ngay vì
khiếp sợ, còn Hoạn Thư cũng bị đánh một trận đến bán tử bán sinh thì nàng Kiều
của ta rất độ nhân từ và hiểu lí lẽ. Hoạn bà đã không hề xuất hiện trong buổi
báo oán này vì tất cả chước mưu do Hoạn Thư bày ra nên chỉ một mình Hoạn Thư
phải chịu. Thế nhưng, khi Kiều nghe Hoạn Thư trình bày:
Rằng: “Tôi chút phận
đàn bà,
Ghen tuông, thì cũng
người ta thường tình!
Nghĩ cho khi các viết
kinh,
Với khi khỏi cửa, dứt
tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng
những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai
chiều cho ai!”
Lí lẽ Hoạn Thư đưa ra thật xác đáng. Lời lẽ ấy đã đánh trúng lòng vị tha, lòng
nhân ái của Thuý Kiều. Kiều rất cảm thông với số phận của những người phụ nữ.
Kiều thừa biết trong xã hội này hạnh phúc của người phụ nữ luôn bị đe doạ nên
Hoạn Thư cố công gìn giữ là lẽ đương nhiên. Huống hồ, Hoạn Thư đã kể trúng một
điều trọng yếu là khi Kiều trốn khỏi Quan Âm các còn đem theo chuông vàng khánh
bạc, vậy mà Hoạn Thư không truy bắt. Cái đức phóng sinh của Hoạn Thư đã để lại
cái nghiệp tốt cho nàng. Kiều cũng thấy được cái thiện tâm của Hoạn Thư cho nên
quyết định:
Tha ra thì cũng may
đời,
Làm ra thì cũng ra
người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì
nên,
Truyền quân lệnh
xuống, trướng thì tha ngay.
Như vậy, dù Hoạn Thư đã gây nhiều oan trái tạo lắm cay nghiệt cho Kiều nhưng vì
còn tích lại một ít công đức và có “lòng tri quá” mà Hoạn Thư thoát nạn.Còn
những bọn người bạc ác như Bạc Bà, Bạc Hạnh, Khuyển, Ưng, Sở Khanh, Tú Bà, Mã
Giám Sinh thì bị trừng trị bằng chính tội ác của họ.
Đây cũng là đoạn thể
hiện rõ nhất ước mơ về công bằng, công lý của Nguyễn Du khi cái xã hội rối ren
như lúc này. Sự công bằng công lý ấy giúp cho con người có nghị lực vượt qua
đau khổ, nó khuyến khích con người làm việc thiện với phương châm “ở hiền gặp
lành”. Nó xoa dịu lòng phẩn uất của con người khi chứng kiến những bất công của
xã hội. Nó thúc đẩy ý chí vươn lên của Kiều trong cuộc sống.
Nếu đánh mất đoạn này
thì cốt truyện vẫn diễn ra logic, bình thường. Điều này đồng nghĩa với việc xác
định đây chỉ là tình tiết phụ. Nhưng không có tình tiết này, nghĩa là bọn người
bạc ác không bị trừng trị thì xã hội sẽ còn đầy rẫy những “phường buôn thịt”,
những “tay buôn người”. Vậy liệu Kiều có chắc sẽ an thân sau khi hưởng cảnh
đoàn viên chăng? Hay sau Kiều sẽ còn biết bao cô gái phải chịu cảnh như Kiều,
như Đạm Tiên đã từng chịu? Nếu thế,Truyện Kiều lại trở thành một
tác phẩm hiện thực phê phán và đoạn kết xảy ra là một điều hết sức miễn cưỡng.
Vả lại, đây còn là một
ước mơ về một xã hội công bằng, công lý của Nguyễn Du. Ông mơ đến một xã hội
tốt đẹp mà ở đó bọn bất lương luôn bị trừng trị còn những người hiếu hạnh, nhân
từ thì tất yếu là hưởng được hạnh phúc. Đó là yếu tố lãng mạn của thiên truyện
cũng là lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong tác phẩm. Có lẽ, khi Nguyễn
Du cho xuất hiện đoạn báo oán thì ông còn một dụng ý đe doạ những kẻ bất lương.
Cái lý lẽ của luật nhân quả luân hồi thì ai cũng hiểu, nhưng có mấy ai tin nó?
Ở đây, Nguyễn Du đã để nó diễn ra như một quy luật tất yếu. Có nghĩa là, nó sẽ
ứng báo với tất cả bất cứ người nào, dù là trọng thần hay dân dã. Nó không chỉ
ứng báo với những bọn như Ưng, Khuyển, Sở Khanh,… mà còn có thể ứng báo với cả
bọn người như Hồ Tôn Hiến. Đó là điều mà Nguyễn Du không hề nói nhưng người đọc
thì ai cũng nhận ra. Tên này mang danh trọng thần nhưng lại dùng thủ đoạn bỉ ổi
để lập công. Hắn hứa hẹn với Kiều, rồi phản bội lời hứa để Từ Hải phải chết
trong cái uất ức. Rồi thì hắn cũng sẽ bị quả báo. Ta có thể nhận ra ý nghĩa đó
là nhờ vào tư tưởng bình đẳng của triết lí đạo Phật. Đó là một thành công của
Nguyễn Du khi vận dụng triết lý đạo Phật vào việc xây dựng hình tượng nhân vật.
Từ cái thuyết nghiệp
báo này, Nguyễn Du khuyên con người nên phấn đấu làm việc thiện, hãy vững tin
rằng “qua cơn bỉ cực đến hồi thái lai”. Và để có được một sự bình yên
tuyệt đối trong cuộc sống, con người phải biết tu tâm. Theo Nguyễn Du, hành
thiện chỉ đem đến cho con người sự tốt lành trong cuộc sống, nhưng cái tâm ta
không tịnh ta cũng sẽ mãi khổ đau.
1.1.4 Tu tâm – Triết
lý về con đường giải thoát:
Đang lúc xã hội rối
ren, chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên, hạnh phúc của mỗi một cá nhân đều
bị đe doạ, vậy mà Nguyễn Du khuyên người ta cố gắng tu tâm, bỏ đi những điều ân
oán, hận thù quay về tu dưỡng tâm hồn. Tư tưởng này gần với lối sống vô vi, ẩn
dật của triết lí Lão – Trang. Ông cho rằng con người có thể tìm được hạnh phúc
ngay ở cuộc sống đời thường với điều kiện là chúng ta phải biết tu tâm. Triết
lí sống này gần với tư tưởng Nho, Phật hơn.
Giữa cái xã hội thế
này, con người dù tài năng đến đâu cũng chỉ là “con cờ” của xã hội, người có
tài sắc là món hàng đắt giá của bọn bất lương. Cho nên, Nguyễn Du đã kết luận
rằng:
Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài.
Đề cao chữ tâm giữa
lúc thiết chế xã hội đầy rẫy lầu xanh như một “thiên la địa võng”cứ chực chờ
giăng bẫy hạnh phúc của con người, có lẽ là hơi thần thánh hoá bản thân, hay là
lí tưởng hoá con người. Nhưng với vị thế của Nguyễn Du, ông có thể làm gì đây?
Khuyên người ta đứng lên lật đổ triều đại ư? Tư tưởng của một nhà Nho chính
thống không cho phép ông làm như vậy. Vả lại, ông đã sáng tác Truyện Kiều bằng
tất cả tình cảm yêu thương của ông đối với con người tài hoa bạc mệnh thì không
lí nào ông lại để nó bị liệt vào loại “yêu thư, yêu ngôn”. Ông cũng không muốn
tác phẩm của mình chỉ nhằm nói lên tâm sự của bản thân khi phải sống trong xã
hội bấy giờ, hay chỉ mang một giá trị giáo dục nào đó. Ông cũng không
nghĩ nó chỉ có giá trị giúp người đọc “Mua vui cũng được một vài trống canh”.
Mà ông hy vọng nó sẽ mang lại một giá trị nhân sinh. Đó là triết lí về con
đường con đường giải thoát – tu tâm.
Chữ tâm là
một khái niệm chung, tâm có tâm ác, có tâm thiện. Chữ tâm mà Nguyễn Du muốn nói
là thiện tâm, cái tâm tốt đẹp. Người có tâm tính tốt đẹp luôn giành được sự yêu
mến của mọi người, do đó mà những người có tâm tốt đẹp luôn hưởng cuộc sống
hạnh phúc. Nên chữ tâm là phần cốt yếu của con người, còn tài chỉ là cái
phụ. Nhưng làm thế nào để có cái tâm tốt đẹp?
Theo quan niệm phương
Đông, để có tâm tính như thế thì con người không ngừng tu sửa bản thân. Nho,
Phật, Lão đã đề ra những phương pháp tu tâm khác nhau, nhưng cả ba học thuyết
đều có chung một ý tưởng, đó là “diệt dục”, diệt trừ những ham muốn trong con
người chúng ta.
Theo Nho giáo, cái tâm
ham muốn sẽ khiến chúng ta làm điều xằng quấy. Càng tiết chế dục vọng, không
cho nó khởi phát thì cái tâm ta càng không bị dục vọng sai khiến, càng dễ giữ
được cái tâm trong sạch.
Theo Lão giáo, dục
vọng sẽ làm cho người ta khởi tâm ham muốn, đã ham muốn thì con người sẽ bằng
mọi cách để thoả mãn dục vọng. Như vậy, vì lợi ích riêng tư, họ có thể tranh
giành nhau, hãm hại nhau, làm khổ nhau.
Còn Phật giáo thì cho
rằng dục vọng làm người ta si mê, cứ ngỡ lợi là thực lợi, cứ ngỡ danh là thực danh,
không ý thức được cuộc đời là cõi phù sinh, cố tranh giành, đắm chìm trong ảo
vọng để cứ mãi bị trói vào vòng khổ ải luân hồi.
Có lẽ, Nguyễn Du tâm
đắc với quan niệm của nhà Phật. Ông cho rằng, Vân sở dĩ không đau khổ là
do nàng sống theo khuôn khổ, không dục vọng cá nhân; còn Kiều sở dĩ khổ đau là
do Kiều có cái lòng dục vọng mà thể hiện là Kiều có cái ý thức quá lớn về chữ
“thân” và lại vướng vào chữ “tình”.
Tại sao ý thức về thân
mà phải khổ?
Theo Trần Đình Sử,
thân là cái phần quý giá nhất, có thân mới có con người, có phúc phận. Cuộc đời
lưu lạc của Kiều là chuỗi ngày đày đoạ tấm thân. Ý thức về thân là ý thức về
cái phần cá nhân riêng tư nhất, thực tại nhất của con người. Theo nhà
Phật thì “thân nghiệp” là nguyên nhân gây nên cái khổ lớn nhất của con người
(những nghiệp gây nên nỗi khổ con người gồm: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý
nghiệp). Con người càng ý thức về thân thì càng đau khổ khi tấm thân bị đày
đoạ. “Truyện Kiều là một truyện thương thân, xót than thấm thía nhất”
[18;112]:
-Đau lòng tử biệt sinh
ly,
Thân còn chẳng tiếc,
tiếc gì đến duyên.
-Trùng phùng dù hoạ có
khi
Thân này thôi có còn
gì mà mong!
-Nàng rằng trời thẳm
đất dày
Thân này đã bỏ những
ngày ra đi!
-Rằng tôi bèo bọt chút
thân
-Thân lươn bao quản
lắm đầu,
Tấm lòng trinh bạch từ
nay xin chừa!
-Nghĩ thân mà lại ngậm
ngùi cho thân.
-Cửa người đày đoạ
chút thân
-Chút thân quằn quại
vũng lầy
-Thân sao thân đến thế
này
Còn ngày nào cũng dư
ngày ấy thôi.
-Đã không biết sống là
vui,
Tấm thân nào biết
thiệt thòi là thương!
Theo tinh thần Phật
giáo, con người mang lấy thân tức là mang lấy thất tình (ai, lạc, hỉ, nộ, ái,
ố, dục), nghĩa là những hạt giống của si mê, giận hờn, ganh tị (tham, sân, si).
Tất cả những điều này làm cho ta “vô minh”. Phật dạy vô minh tức khổ.
Cái khổ của Kiều được
giải thích bằng cái nhìn Phật học qua lời phát biểu của Tam Hợp Đạo Cô:
Sư rằng: “Phúc hoạ đạo
trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng
người mà ra”.
Mọi tai nạn, mọi may
mắn đều do trời quyết định. Tuy nhiên, cỗi nguồn là do chính bản thân của mỗi
con người. Nếu chúng ta không có cái tâm tịnh bụi trần, lúc nào cũng chứa nhiều
phiền não và u mê, cũng bị thất tình chi phối thì tất yếu sẽ dẫn đến khổ đau.
Kiều khổ do số phận đã đành, hơn nữa:
Lại mang lấy một chữ
tình,
Khư khư mình buộc lấy
mình vào trong.
Chữ “tình” đơn giản mà
rắc rối. Ngỡ chẳng có gì khi đã là con người thì lòng mang nhiều tình cảm
cũng là lẽ thường. Nếu chữ “dục” thuộc về con người bản năng thì chữ “tình” thể
hiện con người xã hội. Sư Tam Hợp đã từng buộc Kiều là do mắc phải chữ tình:
Vậy nên những chốn
thong dong,
Ở không yên ổn ngồi
không vững vàng.
Ma đưa lối, quỷ dẫn
đàng,
Lại tìm những chốn
đoạn tràng mà đi.
Kiều đã tự mình làm
khổ mình. Kiều đã không giữ được cái tâm thiền định nên ngay cả những chốn
thong dong đáng lí được tự do hạnh phúc, được thoát khổ mà Kiều vẫn ngồi không
yên, đứng không ổn. Do cái tâm của Kiều không kiên định nên những con ma dục
vọng cứ lôi kéo nàng vào vòng khổ hạnh. Cho nên, Kiều phải chịu:
Hết nạn nọ, đến nạn
kia,
Thanh lâu hai lượt,
thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng
gươm trần
Kề răng hùm sói, gởi
thân tôi đòi.
Giữa dòng nước chảy
sóng dồi,
Trước hàm rồng cá,
gieo mồi băng tinh.
Oan kia theo mãi với
tình,
Một mình mình biết,
một mình mình hay.
Làm cho sống đoạ thác
đày,
Đoạn trường cho hết
kiếp này mới thôi.
Những lời kết án này, quả là lời của một đạo cô – người đã dứt bỏ được lòng
phàm. Không một chút đồng cảm, đạo cô đã kết luận rằng nàng sẽ khổ suốt đời.
Cái án này không phải chỉ do định mệnh tuyên đọc mà còn bởi Kiều chưa biết nắm
lấy tâm mình để tìm nẻo thoát, cứ bị “những sợi dây tình vướng víu kéo đi”(Xuân
Diệu).
Lý thuyết nhân quả
trong Truyện Kiều có nghiệp quá khứ, có duyên tiền định nhưng không phải cái
nghiệp quá khứ và duyên tiền định ấy chịu trách nhiệm hoàn toàn về 15 năm đau
khổ của Kiều. Chính bản thân Kiều cũng có trách nhiệm. Tài, sắc và tình của
Kiều cứ mãi ràng buộc nàng, làm cho nàng mãi mắc vào cái vòng luẩn quẩn của sự
khổ đau mà không tìm ra nẻo thoát. Điều đó được cực tả trong câu:
Ma đưa lối, quỷ dẫn
đường,
Lại tìm những chỗ đoạn
trường mà đi.
Cố nhiên, khi bước vào chốn thanh lâu, mình bị kéo theo, đau khổ cũng đành rồi.
Nhưng khi được bước vào những hoàn cảnh thanh thản như ở chùa mà Kiều vẫn không
an lạc, không có khả năng an lạc. Bởi vì Kiều vẫn khư khư giữ lấy tài, sắc,
tình và không nắm được cái tâm tu học để chuyển hoá, thoát khỏi vòng luân hồi.
Nên 15 năm đau khổ kia do yếu tố khách quan mà cũng do nguyên nhân chủ quan
Kiều tạo ra.
Kiều như một người
giác ngộ sau bao nhiêu năm tháng si mê, lầm lạc. Trước đây nàng cũng cho rằng
nỗi khổ của mình là do trời định, do cái luật thừa trừ của tạo hoá gây nên. Vì
thế mà Kiều cố chống đối lại. Nhưng thất bại và khổ đau khiến nàng bất lực
trước số mệnh. Kiều chỉ còn nhận mọi phần tội lỗi là do mình bằng lời lẽ thật
xót xa:
Phong trần kiếp đã
chịu đày,
Lầm than lại có thứ
này bằng hai!
Phận sao bạc chẳng vừa
thôi,
Khăng khăng buộc mãi
lấy người hồng nhan!
Đã đành túc trái tiền
oan,
Cũng liều ngọc nát, hoa
tàn mà chi!
Lúc này thì Kiều chỉ biết nỗi khổ ấy là do cái nghiệp quá khứ, do cái nợ kiếp
trước của bản thân (trái tiền oan) gây ra.Nhưng trải qua thời gian
gần nửa đời người, trải qua nhiều lần “oan khổ lưu ly”, trôi nổi, chia lìa,
cuối cùng Kiều cũng nhận ra:
Có trời mà cũng tại
ta,
Tu là cõi phúc, tình
là dây oan.
Quả thật nếu không có
kinh nghiệm trực tiếp từ những đau khổ kia thì Kiều khó mà nhận ra điều đó.
Trước đây, tuổi trẻ Kiều rất bướng bỉnh. Kiều thừa biết “bạc mệnh khúc” khi đàn
lên thì “Cực lòng mình cũng nao nao lòng người” nhưng nàng vẫn thích
đàn. Khi Kim Trọng khuyên nàng đừng nên đàn bản ấy thì Kiều lại biện hộ bằng
những lời lẽ đầy cá tính:
Rằng: “Quen mất nết đi
rồi,
Tẻ, vui âu cũng tính
trời biết sao!
Lời vàng vâng lĩnh ý
cao,
Hoạ dần dần bớt chút
nào đựơc chăng.”
Nàng hứa thế chứ nàng vẫn giữ nó suốt 15 năm. Đến cuối cùng nàng bất lực mà
thừa nhận “Ăn năn thì sự đã rồi”.
Kiều biết mình “vô
minh” nên khổ. Nhưng theo đạo cô thì cái khổ ấy không phải không giải trừ được.
Sư rằng: “Song chẳng
hề chi,
Nghiệp duyên cân lại
nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp
Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi
điều tà dâm.
Đó là một điểm son của Kiều. Nàng vướng vào điều tình ái là phạm giới nhưng
“khỏi điều tà dâm” là tránh được nghiệp chướng. Và cái nghiệp ấy so với công
đức của nàng thì công đức ấy còn nhiều:
Lấy tình thâm trả
nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu
tâm đến trời!
Hại một người cứu muôn
người
Biết đường khinh
trọng, biết lời phải chăng.
Tất cả điều này đã giải trừ nghiệp chướng của nàng. Nhờ tâm giữ giới, tâm hiếu
nghĩa, tâm từ bi mà thiện nghiệp được tạo ra, nhờ thế Kiều mới có cảnh đoàn viên,
sum vầy với gia đình và Kim Trọng.
Trải qua 15 năm lưu
lạc, chứng kiến với bao sự đời, tiếp xúc với bao hạng người, Kiều cũng chỉ nhận
ra một triết lý “ở hiền gặp lành” hay “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng
ác”, gieo nhân gì thì gặt quả ấy. Kiều mới giác ngộ được nỗi khổ là do ngoại
giới gây nên chứ chưa thật sự tin rằng một phần là do tâm của mỗi con người.
Điều này thể hiện ở chi tiết nàng tu vì tuyệt vọng với đời, nàng không tìm thấy
hạnh phúc hay mục đích sống nên mới “đem mình bỏ am mây”, chứ không phải vì
nàng giác ngộ triết lý cao thâm của Phật. Nàng tự nhận rằng:
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gởi với cỏ
cây cũng vừa.
Mùi thiền đã bén muối
dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa
âu sồng.
Sự đời đã tắt lửa
lòng,
Còn chen vào chốn bụi
hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu , tu trót qua
thì thì thôi!
Trùng sinh ân nặng
biển trời,
Lòng nào nỡ dứt nghĩa
người ra đi?
Nghĩa là nàng vì “lỡ
tu, tu trót” chứ trong lòng không hề muốn dứt bỏ đường trần, dứt tình riêng tư.
Vì thế khi nghe lời Vương ông khuyên giải:
Ông rằng: “Bỉ thử nhất
thì,
Tu hành, thì cũng phải
khi tòng quyền.
Phải điều cầu Phật,
cầu Tiên,
Tình kia, hiếu nọ ai
đền cho đây?
Độ sinh nhờ đức cao
dày,
Lập am, rồi sẽ rước
thầy ở chung.”
Kiều không còn lý do
từ chối:
Nghe lời nàng phải
chiều lòng,
Giã sư, giã cảnh, đều
cùng bước ra.
Và đến khi bị buộc
phải nối duyên với Kim Trọng, Kiều đã từ chối vì thấy mình không còn xứng đáng
chứ không phải cái tâm của nàng đã tịnh bụi trần.
Nàng rằng: “Gia thất
duyên hài,
Chút lòng ân ái, ai ai
cũng lòng.
Nghĩ rằng trong đạo vợ
chồng,
Hoa thơm phong nhị,
trăng vòng tròn gương.
Chữ trinh đáng giá
ngàn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn
với chàng khi xưa.
Thiếp từ ngộ biến đến
giờ,
Ong qua, bướm lại đã
thừa xấu xa.
Bấy chầy gió táp mưa
sa,
Mấy trăng cũng khuyết,
mấy hoa cũng tàn.
Còn chi là cái hồng
nhan,
Đã xong thân thế, còn
toan nỗi nào?
Nghĩ mình chẳng hổ
mình sao,
Dám đem trần cấu dự
vào bố kinh!
Đã hay chàng nặng vì
tình,
Trông hoa đèn chẳng
thẹn mình lắm ru!
Kiều theo Giác Duyên
tu hành không phải tầm đạo mà tìm chốn an thân. Dù Kiều “đem mình bỏ am mây”,
ăn mặc theo thiền nhưng cái tâm Kiều chưa thật sự giác ngộ. Xưa nay nàng chỉ bị
hành hạ về cái “thân” nên nàng chỉ mới nghĩ đến và biết đến giải khổ cho
“thân”. Đến đêm hôn lễ này thì nàng mới thật sự cảm nhận được thế nào là “khổ
tâm”. Trước đây, Kiều nghĩ đoàn viên với người thân, hội ngộ với gia đình là
điều hạnh phúc lớn nhất của đời nàng, là mục đích sống thúc giục nàng vượt qua
gian nan. Nhưng nay Kiều mới nhận ra cuộc đời là một chuỗi khổ đau, khi trọn
nguyện ước rồi mà Kiều còn đau khổ. Vì Kiều tự nhận mình không còn xứng đáng
với Kim Trọng nên thấy thẹn vô cùng:
Nói chi kết tóc se tơ,
Đã buồn cả ruột, mà
nhơ cả đời.
Cho nên:
Từ rày khép cửa phòng
thu,
Chẳng tu mà cũng như
tu mới là.
Kiều biết tâm mình còn
cố chấp không thể làm ngơ với khổ đau. Đó là quy luật tâm lý bình thường. Bất
kì vết thương nào dù lành lặn cũng để lại cho người ta vết sẹo, vết thương càng
nặng vết sẹo càng sâu. Huống hồ tâm hồn Kiều đã biết bao lần bị tổn thương, thử
hỏi làm sao Kiều có thể xem như không việc gì? Với Kiều, việc ái ân cùng Kim
Trọng sẽ làm Kiều không thể nào quên được cái hồi ức khủng khiếp kia. Như thế
thì:
Còn tình đâu nữa, là
thù đấy thôi.
Cho nên Kiều thà phụ
lòng chàng:
Người yêu ta xấu với
người,
Yêu nhau thì lại bằng
mười phụ nhau!
Thà rằng phụ nhau để
cái tâm Kiều được hoàn toàn yên tịnh. Đó là bước đầu của việc tu tâm. Đã vứt bỏ
được tình, không còn nỗi lo, Kiều thấy lòng mình thanh thản vô cùng. Cho nên
tiếng đàn của nàng “Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy”:
Phím đàn dìu dặt tay
tiên,
Khói trầm cao thấp,
tiếng thuyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương
hoà,
Ấy là hồ điệp hay là
Trang Sinh?
Khúc đâu êm ái xuân
tình!
Ấy hồn Thục Đế hay
mình đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ
duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam
Điền mới đông!
Lọt tai nghe suốt năm
cung,
Tiếng nào là chẳng não
nùng xôn xao.
……
Cho hay thục nữ chí
cao,
Phải người sớm mận tối
đào như ai?
Hai tình vẹn vẽ hoà
hai,
Chẳng trong chăn gối,
cũng ngoài cầm thơ.
Khi chén rượu, khi
cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi
chờ trăng lên.
Ba sinh đã phỉ lời
nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là
duyên bạn bầy.
Như vậy, Kiều đã có
hạnh phúc thật sự với cuộc sống giản dị bên gia đình. Kiều đã có cuộc sống hoàn
toàn tự do, tâm hồn hoàn toàn thanh thản. Niềm vui đời thường ấy gần với lối
sống lí tưởng của Lão giáo, nhưng là kết quả của một quá trình giác ngộ Phật
học.
Mặc dù không phải là
người tinh thông Phật học nhưng không phải Nguyễn Du không có tuệ giác của đạo
Phật. Tuệ giác của ông lớn lắm không phải do học Phật mà có, mà do tiếp thu tư
tưởng văn hoá dân tộc, nhất là kinh nghiệm sống thực tế. Cho nên, Truyện
Kiều là sự kết tinh của những tư tưởng thời đại Nguyễn Du. Ở thời đại
này, có rất nhiều người tin theo thuyết định mệnh. Các nhân vật trong Truyện
Kiều cũng thế, Thuý Vân tin đến mức trở thành con rối của định mệnh,
Đạm Tiên tin đến nỗi trở thành nhân vật chức năng – sứ giả của Hội chủ Hội đoạn
trường, Kiều thì tin với một thái độ bất lực. Qua đó, ta thấy Nguyễn Du tin
định mệnh ở một mức độ nhất định. Nhưng thuyết định mệnh ở Nguyễn Du đã bị chi
phối rất nhiều bởi luật nhân quả, nghĩa là định mệnh nhưng có thể thay đổi được
nhờ vào sự nỗ lực của chính bản thân con người. Ông giải thích nỗi khổ của con
người do nhiều nguyên nhân, do tạo vật đố toàn, do định mệnh an bài, do nghiệp
báo tiền duyên. Trong đó, nguyên nhân sâu xa là do xã hội đem đến. Ông phê phán
mạnh mẽ những xấu xa của xã hội nhưng không đi đến đấu tranh “thay đổi sơn hà”.
Tư tưởng này vừa mang tính cải lương vừa thể hiện thái độ không đồng tình của
Nguyễn Du đối với chiến tranh, minh chứng là ông để Từ Hải bị triều đình tiêu
diệt. Ông khuyên con người phấn đấu làm việc tốt, tu dưỡng tâm hồn, sống hoà
đồng và nhân hậu với mọi người. Đây là quan niệm của nhà Phật cũng là mơ ước
của nhân dân. Quan niệm này khẳng định giá trị tích cực của Truyện Kiều.
Giá trị này không chỉ dừng lại ở đây mà nó còn được khẳng định nhờ giá trị luân
lí đạo đức.
1.2 Luân lý đạo đức:
Trước đây hai từ “luân
lý” dùng cho Truyện Kiều là một điều khó khăn. Bởi lẽ có rất
nhiều ý kiến cho rằng Kiều đã phá vỡ hệ thống luân lý đạo đức phong kiến thời
bấy giờ. Các cụ mệnh danh nhà Nho chính thống cho rằng:
“Đàn ông chớ kể
Phan Trần,
Đàn bà chớ kể Thuý
Vân, Thuý Kiều”.
Ngược lại có nhiều ý kiến đồng tình với Nguyễn Du công nhận Kiều là một người
hiếu nghĩa, Truyện Kiều là quyển sách dạy luân lý rất sinh
dộng. Vấn đề này được Tạ Ký tìm hiểu rất kĩ. Đầu tiên, ông tìm hiểu “tại sao
có vấn đề luân lý Truyện Kiều ?”. Về vấn đề này, ông bảo, ngày xưa các
cụ viết tác phẩm nhằm truyền bá đạo đức “văn dĩ tải đạo” và Truyện
Kiều là một truyện phạm đến luân lý và phải ngăn cấm việc truyền bá
sách ấy. Đến khoảng năm 1920 – 1930, các Nho gia phản ứng rất mạnh khi Truyện
Kiều được đem thành giáo khoa thư. Lúc này, giới phê bình chia hai
phái rõ rệt: một phái chỉ trích Kiều, một phái tán tụng Kiều.
Phái khen có: Phạm
Quỳnh, Trần Trọng Kim
Phái chê có: Nguyễn
Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng
Cả hai phái đều có lí
luận rất sắc bén. Cho nên, để giải quyết vấn đề này, Tạ Ký tiến hành định giới
hai từ luân lý và tiến hành phê bình luân lý nàng Kiều. Ông cho rằng: xét xem
một việc làm ấy có hợp luân lý hay không phải đặt con người ấy vào đúng
hoàn cảnh, phải cho con người đầy đủ tính chất “người” [10;57-58]. Từ
đó, ông biện hộ cho Kiều rất nhiều.
Dương Quảng Hàm cho
rằng: “…Nếu xét cả cuốn truyện thì ta thấy ở trong ấy có nhiều bài học luân
lý rất hay.
Về đường cá nhân luân
lý, thì Truyện Kiều treo cho ta cái gương một người biết trọng phẩm giá:
“Đến điều sống đục sao
bằng thác trong”.
biết giữ thuỷ chung,
vì tuy bị lưu ly, lúc ở thanh lâu, lúc lấy Thúc Sinh, lúc lấy Từ Hải mà bao giờ
nàng cũng nhớ Kim Trọng là người đã gắn bó với nàng từ trước.
Về đường xã hội luân lý, thì việc Chung ông giúp Kiều để cứu cha nàng là một
việc nghĩa, việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để cứu nhân dân là việc nhân. Tác
giả lại khéo tả các cách hành động của kẻ gian ác, các thói tham nhũng của bọn
sai nha, kiến cho người đọc sinh lòng tức giận. Vậy một quyển sách gây nhiều
thiện cảm như Truyện Kiều chả phải là một tác phẩm có ảnh hưởng tốt về
đường luân lý hay sao?” [6; 374].
Có lẽ, ta không cần
biện hộ chi nhiều về từng hành động, từng việc làm của Kiều, chỉ cần mượn câu
đánh giá của Khổng Tử về luân lý của Kinh Thi để biện hộ cho
luân lý Truyện Kiều. Đó là câu: “ Thi tam bách nhất ngôn dĩ
tế chi viết: tư vô tà”( ba trăm bài Kinh Thi lấy một lời
mà nói trùm cả: suy nghĩ không sai quấy). Truyện Kiều cũng
thế, đọc Truyện Kiều không làm cho người ta suy nghĩ sai quấy,
đó là luân lý.
Tuy vậy, ta cũng cần
hiểu rõ nghĩa của từ luân lý. Luân lý là những ứng xử của con người trong
mối quan hệ với con người, gia đình và xã hội, đồng thời những ứng xử này
được mọi người thừa nhận là đúng đắn.
Ở thời Nguyễn Du, tức
thời phong kiến, mọi người đều thừa nhận những hành vi hiếu, nghĩa, đức, hạnh,
trung, trinh…là những hành vi thuộc về luân lý. Còn Nguyễn Du, tư tưởng của ông
thật phức tạp, cho nên quan niệm về luân lý của ông cũng khá mơ hồ. Ông xây
dựng nhân vật không nhằm mục đích làm nổi bật lên một nguyên lý đạo đức nào,
nhưng quan niệm về luân lý của ông lại ảnh hưởng không ít đến tác phẩm, cụ thể
là quan niệm về hiếu, trung, nhân nghĩa, tiết hạnh.
1.2.1 Hiếu:
Trong xã hội phong
kiến cũng như trong học thuyết Nho giáo, Phật giáo, chữ hiếu rất
được coi trọng, Nho giáo cho rằng: “Nết hiếu là điều trước tiên của trăm
nết, nết hiếu thấu đến trời thì gió mưa thuận mùa, nết hiếu thấu đến đất thì
muôn vật thịnh tốt, nết hiếu thấu đến người thì mọi phước đều đem lại”.
(Hiếu giả bách hạnh
chi tiên, hiếu chí ư thiên tắc phong vũ thuận thì, hiếu chí ư địa tắc vạn vật
hoá thành, hiếu chí ư nhân tắc chúng phúc hàm trăn) [7;63].
Cho nên, người có hiếu
nghĩa rất được mọi người tôn trọng. Với Truyện Kiều thì vấn đề
này không cần phải tranh luận. Kiều là người luôn đặt chữ hiếu lên hàng đầu. Dù
Kiều rất đỗi yêu Kim Trọng, Kiều có thể thề nguyền cùng Kim Trọng nhưng Kiều
cũng không phải là người tự quyết định hôn nhân của mình. Kiều cho rằng yêu là
quyền của mình nhưng quyết định hôn nhân là quyền của cha mẹ:
Dù khi lá thắm chỉ
hồng,
Nên chăng thì cũng tại
lòng mẹ cha.
Kiều đã không thể
trọng tình khinh hiếu. Cho nên, khi xảy ra gia biến Kiều đã quyết định dứt
tình, bán thân để chuộc cha và em, nhưng Kiều cũng đã trăn trở:
Duyên hội ngộ, đức cù
lao
Bên tình, bên hiếu bên
nào nặng hơn?
Để lời thệ hải minh
sơn,
Làm con trước phải đền
ơn sinh thành.
Nàng đã nêu cao gương
hiếu nghĩa. Nhưng không vì thế mà nàng trở thành một biểu tượng của đạo đức,
nghĩa là Kiều không phải là nhân vật hoàn toàn được miêu tả bằng bút pháp lãng
mạn. Kiều cũng như bao người trước ngã ba đường lựa chọn nàng cũng băn khoăn,
dằn vặt. Nhưng vì “Đau lòng tử biệt sinh ly” nên “Thân còn chẳng
tiếc, tiếc gì đến duyên”. Nàng cũng có tâm lý phức tạp khi ở vào hoàn cảnh
oan khổ kia. Kiều không hiện lên như một người hoàn mỹ về tính cách, hay nói
cách khác, nàng không có tâm lý nhất quán như những nhân vật lý tưởng của
truyện Nôm trung đại. Nguyễn Du cho Kiều những tính cách tốt đẹp nhưng cũng
thổi vào đấy một tâm hồn của con người đời thường, vì thế mà nhân vật trở nên
sống động hơn, có tính điển hình hơn. Nhà thơ đã xây dựng nhân vật tâm lý trước
khi xây dựng nhân đạo lý. Chẳng hạn, khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, thay vì Kiều
nhớ cha mẹ trước để chứng tỏ mình là người con hiếu nghĩa thì Kiều lại nhớ Kim
Trọng trước. Điều này không phù hợp luân lý nhưng lại phù hợp với quy luật tâm
lý của con người. Con người khi xa ai lâu hơn thì nhớ nhiều hơn. Kiều chỉ mới
xa gia đình không lâu, còn Kim Trọng từ buổi chia tay đến giờ Kiều chưa một lần
gặp mặt. Hơn nữa, đối với gia đình Kiều như đã trọn bổn phận, còn đối với Kim
Trọng nàng còn một niềm day dứt khôn nguôi, đó là nàng đã phụ tình chàng.
Ta thấy, Nguyễn Du rất
am hiểu quy luật tâm lý con người. Điều này chứng tỏ tư tưởng ông rất phóng
khoáng đối với vấn đề luân lý của con người. Luân lý buộc con người sống theo
khuôn khổ, Kiều cũng thế. Nhưng cái khuôn khổ mà Nguyễn Du đặt ra rất phù hợp
với tình cách vốn có của Kiều. Cho nên, luân lý này đã tôn lên vẻ đẹp tâm hồn
của Kiều, con người chí hiếu lẫn chí tình.
1.2.2 Trung:
Ở xã hội phong kiến,
trong chế độ quân chủ chuyên chế, chữ trung được đề cao tuyệt
đối, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (vua bắt chết phải chết,
không chết là không trung). Đó là tư tưởng “ngu trung” nhưng lại là tiêu chuẩn
đào tạo nên mẫu người quân tử thời phong kiến.
Nguyễn Du cũng được
hấp thụ nền giáo dục đó, cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng trung quân như thế.
Ông biết rằng nhà Lê đã đến thời suy tàn và không còn phù hợp để trị vì thiên
hạ, nhưng ông vẫn giữ mãi lòng kiên trung với triều đại ấy. Ông còn định chạy
theo vua Lê sang nhà Thanh. Ông không hợp tác với triều đại Tây Sơn… Chính vì
thế, nhiều người cho rằng ông sáng tác Truyện Kiều để bộc lộ tâm sự hoài Lê của
mình. “Cái tâm sự ấy là tâm sự của một người bầy tôi trung mà vì cảnh ngộ
không thể trọn chữ trung với cựu chủ. Tác giả tự coi mình như một cựu thần nhà
Lê, mà gặp lúc quốc biến không thể giữ chữ trung với Lê hoàng, lại phải ra thờ
nhà Nguyễn. Tâm sự thật không khác gì Thuý Kiều đã đính ước với Kim Trọng mà vì
gia biến phải bán mình cho người khác, không giữ được chữ trinh với tình quân”.
[ 6; 368].
Nhưng có thực tư tưởng
trung quân của Nguyễn Du chỉ đơn thuần là trung thành với nhà Lê như thế không?
Thời đại mà ông sống là thời đại của những cuộc chiến tranh liên tiếp triền
miên, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, chiến tranh giai cấp phong kiến
đàn áp phong trào nông dân khởi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược, bao nhiêu
cuộc thay đổi sơn hà, thay bậc đổi ngôi và đảo lộn xã hội đưa đến phân hoá cao
độ tầng lớp Nho sĩ trong xã hội. Nguyễn Du cũng ở vào cảnh đó. Phạm Công Thế đã
nhận xét thời đại ấy là thời đại: “Danh phận không rõ từ lâu, thuận nghịch
lấy gì mà phân biệt”. Danh không chính thì ngôn không thuận, danh nghĩa mơ
hồ thì lời nói cũng mơ hồ, thậm chí tư tưởng cũng trở nên mâu thuẫn. Thế nên,
tư tưởng trung quân của Nguyễn Du cũng hết sức phức tạp.
Tuy vậy, chữ trung trong Truyện
Kiều là chữ trung tuyệt đối. Kiều là người rất mực
trung thành với triều đình. Chính Kiều thừa nhận rằng Từ tuy là “đấng anh hùng”
nhưng hành động dấy binh khởi nghĩa là hành động của “tên giặc cỏ”. Hành
động ấy chỉ đem lại sự khiếp sợ cho nhân dân, bởi cuộc hành quân của họ:
Ngất trời sát khí mơ
màng
Đầy sông kình ngạc,
chật đàng giáp binh.
Trong ý thức, Kiều
không xem hành động của Từ là một điều tốt đẹp vì chỉ đem đến chết chóc, nàng
không đồng tình bởi:
Ngẫm từ dấy việc binh
đao,
Đống xương Vô Định đã
cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về
sau,
Ngàn năm ai có khen
đâu Hoàng Sào!
Kiều đã vô tình hay cố
ý ví hành động của Từ Hải như việc dấy binh nổi loạn đánh phá kinh đô Tràng An
của “tên giặc cỏ” Hoàng Sào? Có lẽ không phải vô tình, bởi Kiều luôn tôn thờ
Thánh đế:
Rằng: “Trong Thánh
trạch dồi dào,
Tưới ra đã khắp, thấm
vào đã sâu.
Bình thành công đức
bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên
đầu biết bao.
Vị vua mà Kiều tôn thờ
là một vị minh quân, luôn ban bố ân đức, chăm lo hạnh phúc cho nhân dân. Nên
Kiều trung thành với vua là tất yếu. Và Kiều cũng không thẹn lắm trong hành
động gián tiếp hại chết Từ Hải khi thốt câu:
Xét mình công ít tội
nhiều.
Chữ “công” mà Nguyễn
Du dùng ở đây đã có nhiều nhà phê bình thắc mắc. Tản Đà cho rằng:“ như quyển
Truyện Kiều của ông Nguyễn Du, sự hay thì không còn phải nói nữa, song đến như
câu “Nghĩ mình công ít tội nhiều” một chữ công đó thật là quá dốt! Là sao? Như
Từ Hải chết do nghe lời Thuý Kiều khuyên, như Thuý Kiều khuyên chỉ vì cái bụng
của đàn bà nông nổi. Nay đặt như câu đó thể hiện Kiều lập chí giết Từ Hải làm
công, thời Thuý Kiều còn chút giá trị gì. Thuý Kiều đã không có giá trị thời
như quyển Truyện Kiều đó còn hay với ai mà cảm khái với ai?”. [20;33-34]
Đó là một cách phản
bác rất thẳng thừng. Còn Vũ Hữu Tiềm thì bảo: “Câu này Kiều nói mà dùng hai
tiếng “công ít” nghe hơi lạ, vì Kiều không thể cho việc Từ Hải chết là
công nàng dù ít. Từ Hải là ân nhân của Kiều trong việc báo ân trả oán và cũng
rất xứng đôi “Anh hùng thuyền quyên”. Nay Từ nghe lời Kiều đến phải chết thì không
thể nói tiếng “công” bất nghĩa này! Hay dùng tiếng công của Hồ Tôn Hiến để trả
lại một cách mỉa mai chăng?” [34;174].
Ý kiến ấy thể hiện
nhiều mối thiện cảm với Kiều. Thực ra chữ “công” ở đấy cũng hợp lý. Vì Nguyễn
Du chỉ ca ngợi tính phóng túng, yêu tự do, tinh thần hiệp nghĩa, khẳng khái của
Từ Hải chứ không ca ngợi, đồng tình với Từ Hải về việc chống lại triều đình.
Nguyễn Du để Từ Hải chết một mặt vì không muốn một nhân vật có tinh thần phóng
khoáng như thế phải chịu sự gò ép theo lễ nghi triều đình, một mặt lại không
muốn một nhân vật nổi loạn cứ tồn tại mãi. Thôi thì cứ để Từ Hải chết để Kiều
có “công” mà chuộc cái nghiệp má đào. Điều này được Tam Hợp đạo cô biện hộ là:
Biết đường khinh
trọng, biết lời phải chăng.
Cho nên, với cái chết
của Từ Hải, Kiều không những là người vô tội mà còn lập được công. Cái
công ở đây là công “cứu muôn người” thoát khỏi nạn binh đao. Kiều chỉ muốn Từ
Hải ra hàng để dân chúng không còn lo sợ can qua, binh biến. Từ Hải đã hàng thì
đó là công của nàng với dân chúng và triều đình. Còn hại chết Từ Hải là
do sự giả trá, bỉ ổi của Hồ Tôn Hiến chứ đâu phải bởi tâm mong muốn của Kiều.
Cho nên, Kiều nói “Xét mình công ít tội nhiều” là một thái độ bất ngờ
của nàng, ngỡ lập công nhưng nào ngờ gây tội.
Nhiều người đã vin vào
đấy để cho rằng tư tưởng Nguyễn Du không nhất quán. Lúc thì khen Từ là “đấng
anh hùng”, lúc thì cho rằng Từ là tên giặc cỏ và tư tưởng trung quân của ông đã
không để cho nhân vật này tồn tại. Nhưng xét kĩ ra Từ Hải xuất hiện như một
nhân vật chức năng, nhân vật xuất hiện để cứu Kiều. Vì thế, hình tượng Từ Hải
là một hình tượng nhân vật lãng mạn về người anh hùng của những người đau khổ
trong xã hội như Kiều. Nhưng ông cũng nhận ra bất cứ cuộc nổi dậy nào cũng đem
đến tang thương, chết chóc cho quần chúng. Ông luôn mơ ước một cuộc sống hoà
bình, ở đấy vua phải là một vị Thánh đế.
Chữ trung có
thể tìm thấy ở Truyện Kiều, cũng như trong tư tưởng Nguyễn Du. Trung là
sự trung thành tuyệt đối của nhân dân đối với minh quân. Điều này cho ta suy
nghĩ ngược lại, nếu vua không đứng về phía nhân dân, không đem lại lợi ích cho
dân thì sớm muộn gì cũng bị lật đổ. Vì vậy, chữ trung ở Truyện
Kiều cũng như trong tư tưởng Nguyễn Du đã ngã
ngũ nhiều về tính nhân dân, tính quần chúng. Đó là tư tưởng tiến bộ của
Nguyễn Du và cũng có thể là kết quả mà ông thu được sau những năm sống lưu lạc
trong quần chúng.
1.2.3 Nhân nghĩa:
Đây là vấn đề không
cần phải nói nhiều trong Truyện Kiều. Những nhân vật chính diện thì
toàn xử sự theo nhân, theo nghĩa. Chung Ông giúp gia đình Kiều chạy vạy, lo
chuộc Vương Ông và Vương Quan, đó là nhân. Sau khi Vương Quan thi đỗ đã cưới
con của Chung Ông để trả ơn, đó là nghĩa. Những thế lực giúp Kiều toàn là những
con người nhân nghĩa. Còn Thuý Kiều là một hiển nhiên. Kiều là người luôn
nghĩ cho người khác trước khi lo cho bản thân mình. Lo lắng cho cha mẹ, các em
đã đành, Kiều còn luôn quan tâm đến những ai có ân với mình. Chẳng hạn việc
Kiều khuyên Thúc Sinh về quê, Kiều nghĩ:
Phận bồ từ vẹn chữ
tòng,
Đổi thay nhạn yến đã
hòng đầy niên.
Tin nhà ngày một vắng
tin,
Mặn tình cát luỹ, lạt
tình tào khang.
Nghĩ ta thật cũng nên
rằng:
Tăm hơi ai kẻ giữ
giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong
nhà,
Ở vào khuôn phép nói
ra mối giường…
Kiều lo cho Thúc Sinh
mang tiếng phụ bạc “Mặn tình cát luỹ, lạt tình tào khang” trước khi lo
Hoạn Thư ghen hờn. Kiều nhân hậu và hiểu lí lẽ thế đấy. Còn về chữ “tín”, Kiều
cũng không thẹn với các bậc quân tử. Kiều rất trọng chữ tín. Khi Kiều trốn theo
Sở Khanh bị Tú Bà bắt, Kiều không tự vẫn một phần do Kiều biết mình đã thất tín
với Tú Bà, mình không thể chết để trốn tránh trách nhiệm. Cũng như khi nàng đợi
Từ Hải, nàng không sợ hiểm nguy. Dẫu rằng “Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương”
nhưng Kiều vẫn không chuyển lòng:
Nàng rằng: “Trước đã
hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm
dám rời ước xưa!”
Đúng thật Kiều rất
trọng chữ tín. Kiều vừa là người nhân hậu, vừa là kẻ kiên trung, cũng vừa là
người hiếu nghĩa.
1.2.4 Tiết hạnh:
Đây là vấn đề khó đánh giá. Kiều sở dĩ bị buộc vào cái tội vô
luân lý là do họ đánh giá cái tiết hạnh của nàng và công kích nàng. Lễ giáo
phong kiến không cho phép người con gái khuê các đi lại, thề nguyền với người
yêu khi chưa có sự cho phép của cha mẹ, chưa có mối mai, đêm khuya lại “xăm
xăm băng lối vườn khuya” đến với người tình. Rồi lại không an phận, trốn đi
với Sở Khanh. Ăn cắp chuông vàng, khánh bạc nhà họ Hoạn. Đánh đàn hầu hạ kẻ
giết chồng mình… Cho nên, các cụ mang danh nhà Nho chính thống không thể đồng
tình với những việc làm, hành động của nàng.
Theo các cụ, người phụ nữ thà chết để giữ tròn phẩm hạnh
của mình. “Tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại”, chết là việc nhỏ, thất
tiết mới là việc trọng đại.
Các cụ phê bình không
sai. Vì xét theo lễ giáo khắc nghiệt của xã hội phong kiến thì quả đúng đó là
việc đáng phê phán. Con người ở xã hội ấy phải kiềm chế cảm xúc trong lòng mình
đến giả trá. Dẫu biết rằng tình yêu là thứ tình cảm cao quý và không thể thiếu
trong cuộc sống của con người nhưng các cụ vẫn ngăn cấm con cháu mình. Nguyễn
Du thì không, tư tưởng ông rất phóng khoáng. Người phụ nữ vẫn có quyền yêu và
tìm đến người mình yêu. Đó là tính nhân văn trong Truyện Kiều.
Nhưng người phương Đông cũng không chấp nhận thái độ dễ dãi trong tình yêu.
Chính Kiều cũng thừa nhận điều đó:
Đã cho vào bậc bố
kinh,
Đạo tòng phu lấy chữ
trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc
trong dâu,
Thì con người ấy ai
cầu làm chi?
Còn việc nàng ép lòng
theo Sở Khanh chỉ vì nàng muốn thoát khỏi chốn thanh lâu mà thôi. Đến việc đánh
cắp chuông vàng khánh bạc, nói dối Giác Duyên, hầu rượu Hồ Tôn Hiến… tất cả là
do “ngộ biến tùng quyền”, tuỳ thời mà ứng phó.
Chính những việc ấy
làm cho Kiều trở nên rất thật. Tâm hồn nàng vừa thanh cao vừa trần tục, nàng
vừa là nhân vật lãng mạn vừa là nhân vật hiện thực. Kiều trở thành nhân vật có
tính điển hình, không giống những nhân vật trung, hiếu, tiết, nghĩa trong các
truyện Nôm cùng thời. Kiều cũng như bao người khác yêu và mong muốn trao trọn
cuộc đời mình cho người mình yêu. Kiều cố giữ tấm thân trong sạch cho người
yêu, nhưng không ngờ “phẩm tiên rơi đến tay hèn”, cho nên nàng
nuối tiếc vì đã “hoài công nắng giữ mưa gìn với ai”:
Biết thân đến bước lạc
loài,
Nhị đào thà bẻ cho
người tình chung!
Đúng thật, khó mà đánh
giá tiết hạnh nàng Kiều. Ta chỉ biết rằng, Nguyễn Du xây dựng hình tượng nhân
vật Kiều không nhằm nêu cao gương trung hiếu tiết nghĩa mà chỉ muốn xây dựng
một nhân vật rất thật trong đời sống xã hội. Hay nói cách khác, Nguyễn Du không
thành công trong việc miêu tả cô Kiều đạo lý mà lại rất thành công khi tả nàng
Kiều tâm lý. Kiều mang dáng dấp cô gái bình dân hơn là thiếu nữ khuê các. Vì
thế, đánh giá tiết hạnh nàng theo tiêu chí của lễ giáo phong kiến thì không còn
phù hợp nữa. Nhưng ta phải đánh giá thế nào về chữ “trinh” của Kiều đây? Kiều
đã lưu lạc mười lăm năm “thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần”, đã từng
làm lẽ Mã Giám Sinh, Thúc Sinh, làm vợ Từ Hải, viên thổ quan. Vậy mà khi gặp
lại Kim Trọng, nàng bảo:
Chữ trinh còn một chút
này,
Chẳng cầm cho vững lại
giày cho tan!
Lời nói ấy làm cho
nhiều nhà nghiên cứu ngạc nhiên và nhiều nhà “đạo đức” nguyền rủa cái “giả trá”
của Kiều.
Thực ra, chữ “trinh”
mà Kiều nói không phải nghĩa là sự trắng trong về thân xác, cũng không phải là
sự trắng trong về tinh thần. Về thân xác thì rõ rồi. Về tinh thần thì dẫu không
yêu ai ngoài Kim Trọng nhưng tình nghĩa ái ân với Thúc Sinh, Từ Hải, Kiều cũng
tự thấy mình không còn xứng đáng được gọi là trung trinh. Vì thế chữ “trinh”
của Kiều phải được hiểu theo nghĩa khác.Quan niệm của Nguyễn Du về chữ trinh
không cực đoan:
Xưa nay trong đạo đàn
bà,
Chữ trinh kia cũng có
ba bốn đường.
Có khi biến, có khi
thường,
Có quyền, nào phải một
đường chấp kinh.
Như nàng lấy hiếu làm
trinh,
Bụi nào cho đục được
mình ấy vay?
Với Nguyễn Du, chữ
trinh còn là nét đẹp trong phẩm chất, tâm hồn con người. Nguyễn Du đã đóng vai
người bạn đường theo dõi và đồng tình với Kiều trong suốt quãng đường đời
của Kiều chứ không phải là nhà khoác áo đạo đức để đi biện hộ cho tiết hạnh nàng
Kiều. Chính vì thế, Kiều giành được sự cảm thông của người đọc bằng chính những
ứng xử phù hợp của nàng trong từng hoàn cảnh chứ không phải chỉ vì Kiều nêu cao
gương tiết hạnh.
Nhìn chung, vấn đề
luân lý vẫn còn là tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị đạo đức hay giá trị
giáo dục của tác phẩm. Với tác phẩm trung đại, người ta thường dùng hệ thống
luân lý của xã hội phong kiến để đánh giá. Cho nên, tuy chế độ phong kiến không
còn nhưng không phải những quan niệm đạo đức ấy không còn tồn tại. Xét kĩ ra những
giáo lý mà con người thời hiện đại chúng ta cho là khô khan ấy lại chính là
những bài học đạo lý mà ngày nay chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy. Vì vậy, Truyện
Kiều có thể là một bài học luân lý sinh động. Người ta có thể đem
gương Kiều ra để dạy về hiếu nghĩa, trung trinh, tiết hạnh… Cũng có thể đem
những nhân vật phản diện như bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh…để giáo dục con
người về hành động “gieo nhân, gặt quả”. Truyện Kiều quả là sự
hiện thực hóa, cụ thể hoá những bài học luân lý đạo đức. Chính điều này góp
phần nâng cao giá trị Truyện Kiều.
2. Giá trị Truyện Kiều đạt
được khi tiếp biến các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong xây dựng hình tượng
nhân vật:
Truyện Kiều là một tuyệt tác văn học. Giá trị của nó
không dừng lại ở lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ hay tư tưởng tác phẩm. Tuy vậy,
tác phẩm vẫn có một vài hạn chế về tư tưởng. Mặc dù hạn chế ấy không ảnh
hưởng đến giá trị chung của tác phẩm nhưng qua đó ta thấy được sự phức
tạp trong tư tưởng và những quan niệm nhân sinh của tác giả.
2.1 Những phức tạp
trong tư tưởng Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng nhân vật :
Nguyễn Du và Thuý Kiều
là hai người cùng cảnh ngộ, cũng từng trải qua cơn gia biến. Nhưng cơn gia biến
của Kiều chỉ làm thay đổi hoàn cảnh sống của một gia đình, còn cơn gia biến của
Nguyễn Du gắn liền với một cuộc thay đổi sơn hà. Những cuộc bể dâu mà Nguyễn Du
gặp còn nhiều hơn Kiều, những oan khổ mà Nguyễn Du gặp phải còn nhiều gấp mấy
lần Kiều. Trong 20 năm (1782 -1802) đã có bốn triều đại thay nhau trị vì xã
tắc: Trịnh, Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Nguyễn Du là nhân chứng lịch sử, ông chứng
kiến tất cả các cuộc bể dâu đó. Hết triều đại này hưng thịnh rồi suy vi đến
triều đại khác, nó cứ diễn ra tuần hoàn như thể là một quy luật được định sẵn ở
giới tối cao. Cho nên, ông tin vào định mệnh. Hơn nữa, nhìn thấy cuộc sống của
bao con người trong xã hội cứ như một trò ảo thuật “thoắt ẩn rồi thoắt hiện”,
mới thấy đó thì không còn như thế nữa, một triều đại mà chỉ trị vì có vài năm…
Tất cả càng làm ông tin vào Phật giáo với tâm tưởng cuộc đời là bể khổ, cõi đời
là cõi phù sinh. Đời là vậy, thế mà có biết bao người cứ mãi đắm chìm trong ảo
vọng cứ ngỡ danh là thực danh, lợi là thực lợi nên cố tranh giành để rồi phải
tạo nghiệp chướng. Chi bằng vứt bỏ những điều ham muốn kia, theo Lão Tử tìm một
lối sống an lành.
Do vậy, Nguyễn Du mặc
dù là nhà Nho chính thống nhưng trong Truyện Kiều cũng như thơ
chữ Hán đều chịu sự chi phối của cả ba tư tưởng Nho, Phật, Lão.
Như việc giải thích về
nguyên nhân nỗi khổ của Kiều, lúc thì ông cho rằng Kiều khổ do số hồng nhan bạc
phận theo quy luật biến đổi âm dương, tạo vật đố toàn của Lão giáo. Với thuyết
này, Kiều khổ là để cân xứng với tài sắc nàng mang. Điều này tồn tại như một
quy luật:
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má
hồng đánh ghen.
Lúc thì ông lại cho
rằng, Kiều khổ do định mệnh. Cái khổ của Kiều là do đấng tối cao an bài. Với tư
tưởng này, con người an phận theo cái phúc phần mình được hưởng và chấp nhận
cái phần số của mình không than van.:
Bắt phong trần phải
phong trần,
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao.
Lúc thì ông bảo, Kiều
khổ do nghiệp báo luân hồi, do kiếp trước tạo nghiệp nên kiếp này phải trả:
Đã mang lấy nghiệp vào
thân,
Cũng đừng trách lẫn
trời gần trời xa.
Cũng có lúc ông bảo,
Kiều khổ do mang cái tâm dục vọng, cái tâm không kiên định, lòng nhiều ham muốn
nên khổ:
Lại mang lấy một chữ
tình,
Khư khư mình buộc lấy
mình vào trong.
Vậy nên ở chốn thong
dong,
Ở không yên ổn, ngồi
không vững vàng.
Ma đưa lối, quỷ dẫn
đàng,
Lại tìm những chỗ đoạn
tràng mà đi.
Điều này càng thể hiện
rõ ở đoạn kết câu chuyện. Đến đoạn này, tư tưởng Nguyễn Du như đã thực sự trải
qua mười lăm năm rèn luyện và đã chứng kiến nhiều cuộc bể dâu. Cho nên,
tư tưởng ông không còn thuần nhất tuân theo bất cứ một học thuyết nào mà nó là
sự phức hợp, sự tiếp biến các tư tưởng của thời đại:
Ngẫm hay muôn sự tại
trời,
Trời kia bắt phải làm
người có thân.
Bắt phong trần, phải
phong trần,
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người
nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi
dào cả hai.
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ
tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào
thân,
Cũng đừng trách lẫn
trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng
ta,
Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài.
Ở đoạn kết này, ta
thấy rõ sự phức tạp trong tư tưởng Nguyễn Du. Ông đã giải thích nỗi khổ của
Kiều do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng một nguyên nhân mà ông luôn trốn
tránh, đó là nguyên nhân của thực tại xã hội lúc bấy giờ. Ông không hề kết án
chế độ. Có lẽ ở thời đại Nguyễn Du, tư tưởng tiến bộ nhất là lật đổ triều đại
để thay một vì vua vô minh bằng một vị minh vương mà thôi, nhà thơ chỉ mới nhận
ra tính phản động của xã hội chứ chưa nhận ra sự mục ruỗng của chế độ. Còn sự
tàn nhẫn của xã hội đối với hạnh phúc của con người, Nguyễn Du chỉ để cho cuộc
đời của các nhân vật mình làm minh chứng chứ ông không hề có lời bàn luận nào
thêm. Đối với ông, mọi lời bàn luận đều trở nên thừa, vì sự thật đã quá hiển
nhiên. Ông cũng hiểu có điều không nên nói, có điều muốn nói thì không biết nói
thế nào. Sở dĩ có điều này là do ông mang tâm trạng hoang mang, bế tắc, thế
giới quan mang nhiều mâu thuẫn sinh ra từ mâu thuẫn của thời đại.
Cho nên, không thể xác
định Truyện Kiều được sáng tác nhằm thể hiện tư tưởng của học
thuyết nào. Thực chất là qua việc tiếp thu các học thuyết Nho, Phật, Lão,
Nguyễn Du muốn thể hiện nhân sinh quan của mình. Nhân sinh quan ấy thể hiện rõ
ở thái độ của ông đối với các học thuyết ấy.
Đối với Nho giáo,
dường như Nguyễn Du cũng không đồng tình mặc dù ông xuất thân Nho giáo. Có lúc
ông tin theo tinh thần thuận mệnh của Nho gia nên đã để nhân vật của mình sống
theo sự sắp đặt của định mệnh. Một vài nhân vật có đời sống tâm hồn rất tầm thường,
chỉ biết nhất nhất tuân theo mệnh. Nhưng ông cũng nhận ra Nho giáo chỉ biết dạy
con người cố sống, cố hành động giúp ích cho xã hội, nhất là phải tuyệt đối
trung thành , cống hiến cho triều đình, trong khi hạnh phúc cá nhân con người
thì không được quan tâm. Kiều chỉ muốn có hạnh phúc bình thường, muốn giữ cái ý
thích cá nhân của mình, muốn được tự do làm theo những gì mình yêu thích. Kiều
chỉ muốn đàn bản nhạc thật bi ai để tâm hồn mình trải rộng ra đón nhận và đồng
cảm với bao kiếp người khổ ải trong cuộc sống. Thế mà cái ước muốn nhỏ nhoi ấy
lại không thể thực hiện. Cuộc đời thật trớ trêu, nó đã đày đoạ nàng đến mức
nàng sợ hãi tất cả những gì đau thương. Nàng không còn dám nghĩ đến việc chống
đối lại với bất cứ điều gì. Cái sở thích đã thành nết, thành tật rồi mà nàng
còn còn phải từ bỏ. Kiều phải nghẹn ngào thú nhận “Ăn năn thì sự đã rồi”.
Cho nên, với luân lí
tốt đẹp của Nho giáo, Nguyễn Du ghi nhận để phát huy còn với tính chất phản
động của nó thì ông cũng tô đậm lên để phê phán một cách triệt để.
Còn với Lão giáo, chủ
nghĩa tự nhiên chỉ là thứ thuốc giảm đau cho các vết thương tâm hồn. Lão Tử
thấy được quy luật của sự chuyển hoá mâu thuẫn nhưng ông không chủ trương phát
triển mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn mà lại chủ trương ngăn cản mâu thuẫn phát
triển, mong muốn giữ nguyên hiện trạng ấy. Vận dụng quan điểm này vào sinh hoạt
xã hội, Lão Tử cho rằng người ta nên biết đủ, không tranh giành, có như vậy mới
mong bảo toàn sinh mạng, tránh được những điều nguy hại. Với triết lý sống như
thế con người trở nên thụ động, xã hội sẽ không tiến triển. Nguyễn Du không
chấp nhận cái lý tưởng sống đó. Và ông đã bổ khuyết cho tư tưởng ấy bằng triết
lý tu tâm của nhà Phật. Nghĩa là, con người phải nhận ra mâu thuẫn ấy, phải
chấp nhận số kiếp “hồng nhan bạc phận”, “tài mệnh ghét nhau” vì đó là quy luật.
Nhưng quy luật ấy không phải bất biến, nó sẽ được thay đổi nếu chúng ta tích
cực làm việc thiện, điều này gần với quan niệm “ở hiền gặp lành” của nhân dân.
Nhưng tư tưởng của ông gần với tinh thần Phật giáo hơn. Ông cho rằng ta làm
việc thiện thì có thể trả được nghiệp chướng mình gây chứ chưa hẳn là hết khổ,
con người chỉ hoàn toàn thoát khổ khi biết từ bỏ dục vọng, tu tâm. Như thế thì
ông chủ trương giải quyết mâu thuẫn xã hội bằng một triết lý duy tâm, kết quả
là rèn luyện và hình thành nên con người có lòng Bồ Tát trong khi xã hội thì
bất công tràn ngập. Do đó, đoạn cuối của truyện, nhiều người cho đó là một kết
thúc gượng gạo. Nhưng thực ra đoạn đoàn viên này thể hiện sự kết hợp hài hoà tư
tưởng tam giáo đồng quy trong tư tưởng Nguyễn Du. Đồng thời, đó cũng là mơ ước
của Nguyễn Du. Đoạn đoàn viên này cũng làm cho tác phẩm không rơi vào bi
lụy, nó mang màu sắc lạc quan thích hợp với cảm quan nghệ thuật của người Việt
Nam thời bấy giờ. Ngoài ra, nó cũng thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa tính lãng
mạn và tinh thần hiện thực của tác phẩm.
Để nhận xét Truyện
Kiều ta chỉ dùng một chữ “tuyệt”. Đứng về phương diện văn chương, tả
tình, tả cảnh, ngay cả miêu tả tâm lý nhân vật, Truyện Kiều của
Nguyễn Du là tuyệt hảo không chê vào đâu được. Tác phẩm là áng văn chương thanh
tú và mĩ lệ. Còn về phương diện tư tưởng, ông không để tác phẩm mình rao giảng
một cách giáo điều luân lý của chế độ, nhưng bài học luân lý thì trở nên bất
diệt. Tác phẩm của ông không nhằm buộc tội chế độ nhưng bản chất chế độ lại bị
lột trần. Ông luôn tôn trọng sự hoà hợp giữa tình người và lòng người, nghĩa là
sự hoà hợp giữa con người cá nhân với con người xã hội và đề cao lòng nhân đạo,
lòng trắc ẩn của con người. Cho nên qua Truyện Kiều, ta nhận ra
nhiều bài học nhân sinh sâu sắc.
2.2 Triết lí nhân sinh
Nguyễn Du muốn gởi gắm:
Bêlinxki từng nói: “Nghệ
thuật không có tư tưởng như con người không có tâm hồn”. Và không có tư
tưởng nào mà không mang ý nghĩa nhân sinh nhất định. Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã tiếp thu hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong việc xây dựng hình tượng
nhân vật, làm nổi lên giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của tác phẩm. Tuy
nhiên, khi vận dụng các học thuyết này vào tác phẩm, nó cũng đem đến cho Truyện
Kiều ý nghĩa nhân sinh có giá trị.
Truyện Kiều là triết lý về cuộc đời, ở đấy có những
hình ảnh khổ đau, hạnh phúc và u mê, lầm lạc. Cuộc đời Kiều là sự tổng hợp mọi
cảnh đời trong xã hội. Kiều từng là người con hiếu thảo, từng là người tình
ngây thơ, là vợ lẽ, là con hầu, từng làm vợ người quyền thế, từng “kề vai” kẻ
bất nhân, từng là người trung quân, từng là kẻ bất nghĩa, từng là mệnh phụ,
từng là ni cô… Kiều đã trải qua cuộc sống với không ít ngày hạnh phúc, cũng
không ít ngày đau khổ.
Mỗi con người chúng
ta, ít nhất cũng một lần khổ đau, một lần thất bại hay một lần vấp ngã. Đọc Truyện
Kiều, chúng ta sẽ tìm thấy sự đồng cảm xót thương cùng nàng Kiều. Nếu ai đó
đã từng rơi vào một trong những hoàn cảnh đau khổ như Kiều thì ắt hẳn sẽ
không cầm được giọt nước mắt thương người, tủi phận. Còn những ai hạnh phúc,
đường đời được trải gấm dệt hoa thì không thể nào không có lòng trắc ẩn khi
thấy sự chống trả một cách yếu ớt của Kiều cùng với số mệnh, với khổ đau
để vươn lên tìm hạnh phúc. Đó là giá trị nhân sinh của Truyện Kiều.
Văn chương có tác dụng
làm thanh lọc tâm hồn con người .Và nếu chúng ta có lòng học hỏi thì khi đọc
tác phẩm ta sẽ học hỏi rất nhiều. Đọc Truyện Kiều bằng cái
nhìn khách quan, cái nhìn quán xuyến, chúng ta sẽ học được những bài học của
khổ đau và kinh nghiệm.
Nếu ai đó nghĩ rằng,
ta sẽ học được gì khi Truyện Kiều chỉ là câu chuyện về cô gái
giang hồ? Ta sẽ tiếp thu được những gì khi Truyện Kiều chỉ là
sự thể hiện những giáo lý khô khan của Khổng Nho, trong khi thời đại tôn sùng
Nho giáo đã là cái thời lắng sâu vào quá khứ, con người đã cố gắng chôn vùi nó
thì còn khơi dậy làm gì? Còn Phật và Lão chỉ là cái giường ru ngủ, nơi dừng
chân của những tâm hồn quá mỏi mệt thì có ý nghĩa gì trong xã hội tiến bộ ngày
nay?
Ai đã từng nghĩ thế
thì có lẽ chưa hiểu gì về tinh hoa các học thuyết ấy và chưa thực sự “cảm” Truyện
Kiều. Thực ra, trong các học thuyết ấy thì học thuyết nào cũng nhằm đem đến
cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn, chỉ có điều là thực hiện bằng những con
đường khác nhau mà thôi. Nho giáo chủ trương sống “nhập thế”, làm hết sức mình
để giúp đời. Lão giáo chủ trương sống “vô vi”, không tranh giành để đạt được sự
hoà hợp trong cuộc sống. Phật giáo dạy con người lòng thương yêu nhân loại để
người với người kết nên một cuộc đời thật tốt đẹp dựa trên tình thương yêu lẫn
nhau. Như vậy, cả ba học thuyết đều dạy con người phải có tinh thần thực tiễn,
phải nhận thức được ý nghĩa cuộc sống và phải vượt qua những trở ngại trong
cuộc đời để vươn lên tìm hạnh phúc.
Ta thấy cuộc đời Kiều
trải qua bao thăng trầm sóng gió, có những lúc Kiều không chịu nổi khổ đau phải
tìm đường tự vẫn. Nhưng xét kĩ ra, những lúc Kiều không chịu nổi là những lúc
nhân phẩm Kiều bị chà đạp đến xót xa. Lần tự vẫn đầu là vì nàng không chịu được
cảnh phải từ một cô gái khuê các trở nên một kĩ nữ. Lần thứ hai là lúc Kiều
trốn tránh cảnh “Giết chồng mà lại lấy chồng”. Còn những lần bị hành hạ,
bị giày vò, bị đay nghiến thì cũng không thể nào làm tắt đi ý chí đấu
tranh giành quyền sống, giành hạnh phúc cá nhân ở Kiều. Qua đó ta thấy, trong
xã hội phong kiến, con người, nhất là người phụ nữ rất coi trọng nhân phẩm của
mình. Điều này vừa khẳng định giá trị nhân văn của thiên truyện, đồng thời cũng
khẳng định giá trị cuộc sống của con người. Con người phải biết vươn lên mọi
hoàn cảnh để bảo vệ sinh mạng của mình, tìm ra ý nghĩa cuộc sống của mình.
Những lúc nào đó chúng
ta thất bại, chúng ta khổ đau, chúng ta tuyệt vọng, ta hãy nghĩ đến Kiều. Trong
khi Kiều chỉ là một cô gái yếu ớt phải chống trả với mọi thế lực tàn bạo trong
xã hội trong suốt 15 năm đau khổ, thì chúng ta sao lại không tin vào khả năng
của mình?Truyện Kiều đã cổ vũ tinh thần chúng ta, khuyên chúng ta
không nên bi quan với cuộc sống, định mệnh còn có thể thay đổi thì hoàn cảnh
sống không lí nào lại bất biến. “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
Mọi chuyện “Có trời mà cũng có ta”, nghĩa là mọi khổ đau do nguyên nhân
khách quan đem đến nhưng một phần nỗi khổ cũng là do con người luôn than phiền
nỗi khổ, trốn tránh nó để rồi nó cứ mãi đuổi theo.
“Ôi! Núi xanh vốn
không già, vì tuyết mà bạc đầu.
Nước xanh vốn không sầu vì sóng mà nhăn nheo”. [14;7]
Con người ta vốn tự do
tự tại, không lo sầu thì phiền não từ đâu mà đến, khổ sầu từ đâu mà ra? Phải
chăng do ngoại cảnh đem đến, như tuyết làm bạc đầu ngọn núi, như sóng làm mặt
nước nhăn nheo?
Thế nhưng, nếu không
có ngoại cảnh thì có chắc con người đạt được hạnh phúc? Trong khi Phật dạy, đời
là bể khổ, khổ sầu của con người là do sinh, lão, bệnh, tử, sở cầu bất đắc, ái
biệt ly… gây ra. Những khổ đau ấy làm cho con người cảm tưởng hạnh phúc cá nhân
luôn mâu thuẫn với cuộc đời. Nhưng nếu chúng ta không giải quyết mâu thuẫn ấy
thì mâu thuẫn càng tăng, còn chúng ta sẽ không tiến bộ. Cho nên, sống là chấp
nhận khổ đau, chấp nhận thất bại, không chỉ dừng lại ở chấp nhận mà phải đấu
tranh để giải quyết nó. Ta thấy, Kiều là một cô gái yếu đuối nhưng tinh thần
vươn lên, ý thức về nhân phẩm lại mãnh liệt. Kiều ý thức được nỗi khổ của mình
và ý thức được chính mình mới là người giải trừ nỗi khổ ấy, Kiều không hề trốn tránh
nó:
Kiếp này trả nợ chưa
xong,
Kiều nghĩ sống là để
trả nợ kiếp trước. Cho nên trốn nợ bằng cái chết là hèn nhát, là càng chồng
thêm nợ. Vì thế, khi Kiều trốn cùng Sở Khanh bị Tú Bà bắt lại và buộc phải tiếp
khách, nàng không thể tự tử vì tự tử là nàng mang thêm nợ. Tú Bà bỏ tiền mua
Kiều nhưng trá hình bằng trò cưới lẽ. Kiều đã vịn vào cớ này để từ chối tiếp
khách. Nay lại trốn theo Sở Khanh, bị bắt, đuối lí nàng đành chấp nhận “Chút
lòng trinh bạch từ nay xin chừa”. Kì thực, nàng có thể tự tử vì chết là
hết. Nhưng nàng không làm thế. Kiều sợ chết ư? Lý do này vô lí. Kiều sợ họ làm
khó gia đình ư? Họ không có cái lí để làm điều đó. Nhưng Kiều chấp nhận tủi
nhục vì nàng là người hiểu đạo lý.
Qua Truyện
Kiều, ta nhận ra nghệ thuật ứng xử của con người với gia đình và xã hội.
Nghệ thuật ứng xử ấy không phải thể hiện ở triết lí khô khan của Khổng Nho –
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Cũng không phải là lòng Bồ Tát, vị tha của đạo Phật.
Lại càng không phải là tính khiêm tốn đến “vô vi” của Lão giáo. Nó chính là sự
dung hợp những giáo lý của các học thuyết ấy. Như việc Kiều tha bổng Hoạn Thư
là biểu hiện cái cái lí trí sáng suốt, suy xét đến ngọn nguồn của sự vật (cách
vật chí tri) kết hợp với lòng vị tha, sẵn sàng bỏ lỗi cho người biết “tri
quá” cùng với tính cách khiêm tốn không ra oai với kẻ thù. Tất cả những điều đó
như xuất phát từ các học thuyết Nho, Phật, Lão nhưng lại chính là đạo lí của
người Việt Nam. Người Việt Nam không có cách ứng xử ủy mị như nếu người ta tát
vào má bên phải của mình thì chìa cái má bên trái cho người ta tát nốt. Cách
ứng xử như lối của Kitô giáo ấy không phù hợp với tính cách chúng ta. Với người
Việt Nam, nếu người ta tát mình một cái thì mình phải biết ngăn cản không cho
họ có cơ hội tát thêm cái thứ hai chứ cũng không phải tìm cách tát lại. Gia
đình Kiều bị bọn sai nha làm cho điêu đứng nhưng họ không tìm cách trả thù. Báo
ân mà không gây oán là điều mà Truyện Kiều muốn thể hiện.
Khi cái lòng ta không
thù oán, ta không có gì phải nghĩ suy, lúc đó ta mới thực sự sống thanh thản:
“Đời ta yên lặng,
không nghĩ quanh co,
Người đều lo sợ, ta
vẫn không lo”.
Ngã sinh dĩ an, bất
thích ư ưu,
Chúng nhân hữu ưu, ngã
hành vô ưu).(Pháp cú kinh)
Dẫu rằng cuộc sống bắt
chúng ta phải luôn đấu tranh với đau khổ, sống là để mưu cầu hạnh phúc. Nhưng
nếu cứ vì hạnh phúc cá nhân, luôn tính toán thiệt hơn, để dục vọng lôi cuốn thì
ta sẽ luôn “Ở không an ổn, ngồi không vững vàng”. Con người
sẽ luôn thấp thởm, lo âu “Thấy người nằm đó biết sau thế nào?”. Lo âu sẽ
làm ta luôn sầu muộn, băn khoăn, bất ổn. Đó là tâm trạng của Kiều bởi nàng là
người “thích ưu tư”, đa sầu, đa cảm;
Cho hay là giống hữu
tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành
cho xong.
Còn chúng ta, ta hãy
nhìn lại cuộc sống của mình, bộn bề những lo toan, những cạnh tranh trong xã
hội, tất cả chỉ làm cho chúng ta thêm mỏi mệt. Rồi một ngày nào đó ta thất bại,
ta bế tắc, ta khổ đau. Những lúc ấy có khi nào ta tự hỏi: Cuộc sống của chúng
ta từ đâu đến? Giá trị của đời sống là gì? Mục đích của cuộc sống là ở chỗ nào?
Những lúc này, ta hãy
tạm quên điều ấy đi, lắng nó xuống tận đáy của dòng suy tưởng, hãy mở Truyện
Kiều để tìm thấy triết lí sống của Kiều. Rồi hãy nhìn lại cuộc sống,
có mấy ai không đau buồn, tủi khổ, sướng vui, hạnh phúc. Tất cả những điều đó
làm nên cuộc đời. Cuộc đời là thế đấy! Ai cũng muốn mọi cái tốt lành đều đến
với mình nhưng đâu phải lúc nào cũng đạt được. Muốn ước mơ được thực
hiện, con người phải không ngừng phấn đấu, nỗ lực thậm chí phải chịu đựng tất
cả những khổ đau và vượt qua nó bằng tinh thần kiên định.
“Nếu chẳng một phen
sương lạnh buốt
Hoa mai đâu
dễ ngửi mùi hương”.
(Thiền sư Hoàng Bá Hy
Vân).
Hạnh phúc của chúng ta
không ở đâu xa. Xác định được mục đích cuộc sống đã là hạnh phúc. Vì nếu ta có
mục đích sống ta sẽ có nghị lực vượt lên trên khổ đau để sống. Người Việt
Namcũng như người Trung Hoa không có ý niệm sống để rửa tội, để sau khi chết
rồi được sung sướng. Quan niệm đó của Kitô giáo họ không thể hiểu nổi, còn
chúng ta ngày nay cũng chưa hẳn đồng tình. Người Việt Namchúng ta không có quan
niệm sống để đạt tới cảnh Niết Bàn vì quan niệm Niết Bàn huyễn hoặc quá.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du cho ta biết mục đích chân thực
của đời sống là tìm cái vui trong những sinh hoạt đời thường, sống hoà hợp với
gia đình và xã hội bằng một tâm hồn thanh thản, thoải mái. Đó là giá trị
đích thực của Truyện Kiều.
PHẦN KẾT LUẬN
Xưa nay khi đánh giá Truyện
Kiều, người ta thường chú trọng đến giá trị hiện thực, giá trị tố cáo của
thiên truyện. Ai ai cũng cho rằng, Truyện Kiều là cáo trạng tố
cáo một cách đanh thép tội lỗi của xã hội xấu xa đã chà đạp quyền sống của con
người, nhất là người phụ nữ. Dĩ nhiên không thể phủ nhận cách đánh giá ấy.
Nhưng đánh giá Truyện Kiều chỉ dừng lại ở đấy thì chưa thực sự
xâm nhập vào thế giới tinh thần mà Nguyễn Du đã dày công sáng tạo nên.
Có thể xem Truyện
Kiều như một thứ trà “khổ tận cam lai”. Đọc xong Truyện Kiều giá
trị tồn đọng lại ở nhận thức của mỗi người đọc như là “vị ngọt sau khi uống”(cam
dư chi vị). Mỗi người đọc sẽ có một cách lý giải khác nhau về giá trị tư tưởng Truyện
Kiều. Đó là sự biểu hiện của đặt trưng văn học.
Trần Trọng Kim cho
rằng Nguyễn Du mượn Truyện Kiều để nói lên tâm sự của mình.
Ông giải thích: “Tại làm sao trong tiểu thuyết Tàu thiếu gì truyện hay mà
tiên sinh không dịch lại dịch bộ Thanh Tâm Tài Nhân? Là tại tiên sinh thấy cảnh
ngộ của Kiều đối với cảnh ngộ của tiên sinh hình như là “cùng một hội một
thuyền đâu xa”. Cho nên tiên sinh mới dụng tâm lấy Truyện Kiều mà bày ra cho
hết mọi tình, mọi ý của mình… Than người bạc mệnh tức là than thân mình”.
[13;11].
Còn Phan Ngọc thì cho
rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du chuyển từ chủ đề “tình khổ”
sang “thân khổ” để than thân một cách xót xa nhất.
Với Nguyễn Bách Khoa
thì: “Truyện Kiều là một tri thức lịch sử chính xác về xã hội và con người
Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX”. [Dẫn theo 13;17]
Ngoài ra, còn rất
nhiều nhận định khác nhau về Truyện Kiều. Như vậy, Truyện
Kiều chẳng khác nào viên ngọc đa diện mà nhìn ở mỗi giác độ khác nhau
thì thấy những hoa văn khác nhau. Sở dĩ có điều đó là do tư tưởng Nguyễn Du
phức tạp. Trong quá trình sáng tạo lại Kim Vân Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân, ông đã chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phức tạp. Tư tưởng
ông vừa chịu sự chi phối của thuyết tài mệnh tương đố vừa chịu sự chi phối của
thuyết định mệnh lại chịu thêm sự chi phối của thuyết nhân quả luân hồi. Nhưng
trongTruyện Kiều, tư tưởng của ba học thuyết ấy thể hiện một cách hài
hoà. Nguyễn Du đã vận dụng cả ba tư tưởng ấy trong xây dựng hình tượng nhân
vật. Hồ Tôn Hiến là nhân vật tiêu biểu cho người trung thành tuyệt đối với
triều đình. Kim Trọng, Vương Quan, Thuý Vân, Hoạn Thư là những người sống theo
khuôn khổ Nho giáo. Tam Hợp đạo cô là biểu hiện của đạo Thần Tiên. Vãi Giác
Duyên là người sai mê Phật học. Nguyễn Du đã không dụng tâm miêu tả thật tỉ mỉ
đời sống nội tâm của những nhân vật này, vì họ chỉ là những người sống theo
khuôn định sẵn. Ngược lại, Kiều là nhân vật có đời sống nội tâm phong phú. Kiều
tin định mệnh, tin số hồng nhan bạc phận, tin nghiệp báo luân hồi bởi tất cả
những điều đó đã tạo nên cuộc đời gian tuân, chìm nổi của nàng.
Qua hệ thống các nhân
vật trong Truyện Kiều, ta thấy tư tưởng Nguyễn Du đầy phức tạp
và mâu thuẫn. Tư tưởng của ông là kết quả của sự tiếp biến các học thuyết Nho,
Phật, Lão, đồng thời chịu sự chi phối của tư tưởng nhân đạo của nhân dân. Cho
nên, tuy Truyện Kiều dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
nhưng nhân vật trong truyện lại chính là con người ViệtNam.
Để tạo nên xã hội Truyện
Kiều, Nguyễn Du để mỗi nhân vật của mình mang một lý tưởng sống khác nhau,
có người sống để cống hiến đời mình cho triều đình, có người sống để làm tròn
bổn phận với gia đình, có người theo đạo Thần Tiên, có người nương nhờ cửa
Phật, có lắm kẻ vì tiền, lắm người bất nghĩa…Tất cả làm nên bức tranh xã hội
Việt Nam cuối thế XVIII đầu thế kỉ XIX. Trong xã hội ấy, người hiếu hạnh, nết
na, trung nghĩa, nhân hậu như Kiều thật hiếm hoi. Bởi thế, Kiều là nhân vật
được Nguyễn Du gởi gắm nhiều giá trị tư tưởng nhất. Qua nhân vật này, Nguyễn Du
đã nêu lên quan niệm: con người phải chấp nhận gian khổ và vượt qua nó
với tinh thần kiên định, biết giữ tròn đạo nghĩa, tận trung, chí hiếu, thủ
tiết, giữ đạo cương thường, không để tâm dục vọng lôi kéo, không cho oán hận
dày vò.
Bên cạnh đó, Nguyễn Du
còn muốn phát biểu trước đọc giả cái quan niệm của mình về xã hội đương thời và
bày tỏ ước mơ của mình về cuộc sống hoà hợp, con người đối xử với nhau bằng
tình thương yêu chân thực còn những kẻ ác gian thì bị trừng trị thích đáng.
Tuy vậy, tư tưởng
Nguyễn Du lại rơi vào một số hạn chế. Tư tưởng của ông không nhất quán
cho nên Truyện Kiều chỉ dừng lại ở mặt tố cáo mà không đi đến
đấu tranh. Ông cho rằng nỗi khổ của con người sẽ được giải thoát nếu ta biết tu
tâm vì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Quan niệm này chứng tỏ Nguyễn
Du không dùng cách mạng để thay đổi số phận con người. Đó là một quan niệm duy
tâm. Thế nhưng đây là cái duy tâm tích cực. Ông không khuyên con người trốn khổ
như Lão giáo, Phật giáo cũng không cam chịu như Nho giáo. Ông khuyến khích con
người chấp nhận khổ đau và vượt qua nó. Tư tưởng này gần với quan niệm của quần
chúng hơn. Vì thế có thể nói tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều đã
bị biến đổi nhiều do ảnh hưởng của tính nhân dân và tư tưởng phóng khoáng của
Nguyễn Du. Nhưng dầu thế nào Truyện Kiều cũng đã đạt được mục
đích, đó là làm cho người đọc hướng tới cái Chân – Thiện – Mĩ trong đời sống
của mình.


























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét