Mấy ý kiến về thơ hôm nay
Đổi mới nội dung cảm hứng,
đổi mới quan niệm thơ dẫn tới hệ quả đổi mới nghệ thuật biểu diễn: thể loại thơ
đa dạng về cấu trúc. Và qua đó chúng ta có thể thấy được sự vận động trong tư
duy sáng tạo của nhà thơ.
1. Những năm cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, thơ Việt phát triển trong những điều kiện lịch sử xã hội văn
hoá và tâm lý có nhiều biến đổi.
Một số nhà thơ trẻ về với truyền thống thơ ca dân tộc nhưng đa
phần là hướng về phía trước, cách tân táo bạo, hoà nhập vào mặt bằng thơ hiện
đại thế giới. Nhiều thể nghiệm của nhà thơ Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Ý Nhi, Dương
Thuần, Y Phương, Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Tuyết Nga, Phan Huyền Thư,
Trương Huyền Chi… gây ấn tượng cho người đọc. Có người nhìn lại thơ một thời để
đoạn tuyệt, có người quyết liệt khẳng định tư duy nghệ thuật mới, có người nhọc
nhằn đi tới những vùng sâu, vùng xa của vô thức, tiềm thức. Họ cố thoát ly mỹ
học truyền thống, nhưng kết quả không như mong muốn và ngoài sự trông chờ của
người đọc, Như thế cũng có nghĩa thị hiếu, trình độ thẩm mỹ của người đọc, của
thời đại là bền vững cách tân cũng cần phải kiên trì, và cũng nên lưu ý; không
phải bao giờ cách tân, hiện đại cũng đồng nghĩa với thành công.
Đội ngũ nhà thơ có sự nối tiếp và luôn được bổ sung ngày càng
đông đảo. Các nhà thơ lớp trước vẫn hăng hái trong cảm hứng và cách viết quen
thuộc, các nhà thơ lớp trẻ gây được sự chú ý bằng những tìm tòi theo hướng hiện
đại, đi sâu vào bản thể con người với “khát vọng thành thực” (Nguyễn Quang
Thiều, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải…) nhờ thế thơ
phong phú về giọng điệu, đa dạng về khuynh hướng, cố gắng cách tân về thi pháp.
2. Khuynh hướng sử thi hiện rõ trong các
trường ca và các bài thơ viết về chiến tranh chống Mỹ cứu nước
Ở đây chúng ta thấy những trải nghiệm cá
nhân, những thôi thúc tìm tòi ở từng nhà thơ đã có kết quả tích cực: các khái
quát về lịch sử dân tộc, đất nước trong cảm hứng cộng đồng trở nên cụ thể, xác
thực và cảm động. Có những lý giải sâu sắc về chiến thắng về vinh quang của dân
tộc: không có những mất mát hy sinh, những khổ đau lớn lao và chồng chất của
bao con người, bao số phận thì đất nước không thể hoà bình thống nhất. Bên cạnh
không khí sử thi, ý thức cộng đồng, trách nhiệm công dân là khuynh hướng thơ
trở về với cuộc sống thế sự đời tư, suy nghĩ cá nhân với khát vọng hạnh phúc
đời thường, với những lo âu, nỗi buồn nhân thế. Các nhà thơ tiêu biểu cho
khuynh hướng sử thi như Chế Lan Viên, Tố Hữu … cũng chuyển xuống “giọng trầm”
hướng vào những vấn đề nhân sinh thế sự (Hoa trên đá, Di cảo thơ, Một
tiếng đờn, Ta với ta…)
Cái tôi cá nhân được khẳng định, các nhà thơ nhìn con người từ
nhiều phía, từ mọi bình diện: sự hữu hạn của đời người và cả thế giới tâm linh
đầy bí ẩn. Chất đời tư, đời thường nổi trội và da diết nhất là trong thơ của
các cây bút nữ: Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Giáng
Vân… Nhìn chung sự chuyển hướng tư duy nghệ thuật thơ có hiệu quả là thế hệ các
nhà thơ sáng tác từ những năm kháng chiến chống Mỹ: Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo,
Nguyễn Duy, Bằng Việt, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Hoàng Nhuận
Cầm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Phùng Khắc Bắc, Vương
Trọng…
Khuynh hướng thế sự đã gợi lên cảm hứng thức tỉnh nhìn lại, xác
định lại những gì đã qua như một lời sám hối để hướng tới dù có phải đối mặt
với xót xa, đau đớn: Anh Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…
Với ý thức tự do tìm tòi sáng tạo, một số nhà thơ cố gắng đưa
thơ đi theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa gây sự chú ý của người đọc và thu
hút các nhà thơ trẻ trưởng thành từ sau 1975. Sự thực khuynh hướng này là tiếp
tục những tìm tòi của thơ Việt từ cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế
kỷ XX. Những năm cuối thế kỷ, các cây bút trẻ càng có ý thức cách tân quyết
liệt. Vi Thuỳ Linh, Văn Cẩm Hải, Phan Huyền Thư, Nguyễn Bảo Chân, Phan Hoàng,
Ly Hoàng Ly, Lê Thị Mỹ Ý… triển khai ý tưởng đến tận cùng, bản ngã được mở ra
nhiều hướng, ngôn ngữ thơ phóng túng như ngựa hoang trên “đại lộ tư duy”. Họ nỗ
lực làm biến đổi những thói quen, thị hiếu thẩm mỹ truyền thống tạo ra diện mạo
mới, thi pháp mới cho thơ:
- Biểu hiện cuộc sống bằng những ám thị, ẩn dụ.
- Tư duy gián đoạn, không liên tục.
- Tự do ghép chữ, tạo hình theo biểu tượng.
- Sử dụng câu thơ vắt dòng.
Thơ trẻ có nhiều tìm tòi, đi vào vùng sâu, vùng xa của vô thức,
tiềm thức, có những liên tưởng độc đáo, vừa hiện thực đời sống, vừa chứa đựng
yếu tố tâm linh. Cũng có sự ngộ nhận hồn nhiên về tính hiện đại của thơ, muốn
vứt bỏ truyền thống, muốn vùng vẫy tự do, tạo ra những ly kỳ khác lạ, rối rắm,
không đầu không cuối để rơi vào nghi ngờ xa lánh, không có sự đồng cảm vì không
ai hiểu nổi. Thơ trẻ có trường hợp quá sa đà, khai thác tình dục như một thách
thức dư luận. Với nghệ thuật, tình dục không phải là điều cấm kỵ. Cái chính là
cần hiểu, cần tài năng thể hiện điều đó, tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ, nếu
không ngược lại sẽ là dung tục hoá, gây phản cảm. Và một điều không nên quên là
sáng tạo gì thì cũng cần trên giá đỡ tâm lý và mỹ tục dân tộc. Không thể bất
chấp, lại càng không thể phá phách hư vô.
3. Đổi mới nội dung cảm hứng, đổi mới quan niệm thơ dẫn tới hệ
quả đổi mới nghệ thuật biểu diễn: thể loại thơ đa dạng về cấu trúc
Và
qua đó chúng ta có thể thấy được sự vận động trong tư duy sáng tạo của nhà thơ.
Sự vận động này thể hiện ở nhiều cấp độ: quan niệm về quan hệ giữa thơ và cuộc
sống, thái độ nhà thơ với cuộc đời, tư thế cảm thụ và cách bộc lộ cảm xúc thông
qua một hệ thống nghệ thuật như đối tượng thẩm mỹ, ngôn ngữ, giọng điệu…
Những bài thơ ngắn, có khi cực ngắn xuất hiện, cả bài thơ chỉ có
hai, ba câu, có khi một câu thơ tự do. Thơ tự do, thơ không vần, thơ văn xuôi
phát triển đem lại lợi nhuận cho việc thể hiện cảm xúc. Câu thơ xuống dòng, vắt
dòng, leo thang tạo dáng mới. Có thể thơ cổ điển được phục hồi, tất nhiên là có
nâng cao, sáng tạo. Đặc biệt thể thơ lục bát trở lại và biểu hiện sức sống, vị
trí quan trọng của thể thơ truyền thống này trong tiến trình văn học dân tộc.
Có nhà thơ dành cả tập cho thơ lục bát, có những cuộc thi lục bát được hưởng
ứng rộng rãi. Và nhiều nhà thơ đã tạo thêm sức hấp dẫn của lục bát: Nguyễn Duy,
Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn…
Thơ văn xuôi cũng khẳng định vị trí của mình. Câu thơ dài rộng
chứa chất nhiều tâm sự, có khi bộc bạch những trải nghiệm cá nhân, có lúc trầm
tư suy nghĩ hoặc triết luận về thế sự. Thơ văn xuôi thích hợp cho việc thể hiện
những tìm tòi, khai mở nội dung. Cũng có những bài thơ hình thức là văn xuôi thơ
những thực chất là những bài thơ nằm trong thể thơ quen thuộc được viết liền
thành câu dài gợi cảm giác mênh mang, xa rộng.
Các tác phẩm trường ca (chính xác hơn nên gọi đây là thể loại
thơ kết hợp nhiều thể thơ) thường vận dụng tổng hợp thơ lục bát, thơ 7 chữ, 8
chữ, thơ tự do, thơ không vần, thơ văn xuôi, thơ kịch… Qua các trường ca của
Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Anh Ngọc, Trần Vũ Mai, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh
Thái… người đọc thấy rõ những tìm tòi, đóng góp của các nhà thơ ở thể loại này.
Các nhà thơ, trước hết muốn tổng kết một giai đoạn lịch sử đã qua và đặt ra
những vấn đề mới của dân tộc. Hai là, ở thể loại trường ca, các nhà thơ bộc lộ
khả năng muốn vươn lên một tầm cao khái quát, một độ sâu triết học của tư tưởng
nhận thức về nhân dân và đất nước. Và ba là với kết cấu dài rộng hoành tráng, ở
đây nhà thơ thể hiện được vốn sống phong phú, đa dạng, phức tạp với một tay
nghề vững vàng đã trải qua những thử thách.
Như vậy, cùng với việc tồn tại những thể thơ dân tộc, dựa vào
các thể thơ dân tộc, các nhà thơ có những tìm tòi về thể loại để thơ có dáng vẻ
hiện đại hơn và nhất là để thơ biểu hiện đúng hơn nội dung cảm xúc đầy những
phức tạp, có khi đối cực trong tâm trạng chủ thể trữ tình trước cuộc sống sôi
nổi, nhiều biến động.
Mã Giang Lân


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét