Nguyễn Lương Vỵ 45 năm thi
ca:
Chữ nén huyền âm tượng số ngân dài
Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ sinh
năm 1952 tại Quảng Nam, thành danh từ năm 1969 với các bài thơ in trên Tập san
Văn khi còn là một học sinh ở Quy Nhơn. Cuối tháng 10-2015, sách Tuyển tập thơ
45 năm dày 700 trang của Nguyễn Lương Vỵ ra đời, được hệ thống bán lẻ trực tuyến
toàn cầu Amazon đảm nhận phát hành. Cùng với 600 bài thơ, sách có phần cảm nhận
về thơ Nguyễn Lương Vỵ, gồm các bài của Bùi Giáng, Cung Tích Biền, Trịnh
Y Thư, Du Tử Lê, Võ Chân Cửu, Hồ Ngạc Ngữ… Chúng tôi xin giới thiệu dưới
đây bài viết của một độc giả yêu thơ:
“Thinking and Being are The Same”
(Tư tưởng và Tồn sinh là Một - On Nature - Parmenides)
Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư
Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu
thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ
thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng,
tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học,
tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm
sâu:
"…Mẹ
đẻ đỏ loe tiếng khóc
Càn khôn tìm về ngay chóc
Vũ trụ đùn ngay một bọc
Âm âm âm
AAA
UUU
câm câm câm
Chỉ biết tri âm là đây
Ngáp dài một cái tròn đầy
Xương tàn cốt lụi òa bay…"
Sau đó,
tôi dùng Google để tra cứu thêm và được biết nhà thơ NLV đang cư trú tại Quận
Cam, miền Nam California, cũng là nơi tôi đang ở. Tôi đã mạnh dạn email cho nhà
thơ NLV để hỏi mua tập thơ "Tám Câu Lục Huyền Âm" của ông vừa mới
phát hành (theo giới thiệu trên các trang mạng), đồng thời, hỏi mua thêm các tập
thơ khác của ông đã phát hành trước đây. Ngay ngày hôm sau, tôi nhận được hồi
đáp của nhà thơ và đã có một buổi gặp gỡ rất chân tình. Kể từ đó, tôi đã trở
thành người em, người bạn vong niên rất thân thiết với ông. (Về tuổi đời, tôi
nhỏ hơn ông đúng 2 con giáp, cùng bổn mạng con Rồng).
Nhà thơ
NLV đối đãi với tôi như một người anh, người bạn vong niên rất chân tình, cởi mở.
Mỗi sáng thứ Bảy hay Chủ Nhật, chúng tôi thường hẹn nhau ở một quán cà phê để
trò chuyện tâm tình. Dáng người NLV tầm thước, mái tóc đã bạc gần hết, thường
được che bằng chiếc mũ bê-rê trắng. Đôi mắt ông sáng hẳn lên và giọng nói hào sảng,
đầy hứng khởi mỗi khi đề cập đến Thi Ca và Phật Pháp.
Càng gần
gũi và thân thiết, tôi càng quí trọng ông, một nhà thơ rất tài hoa nhưng sống ẩn
dật. NLV sở hữu vốn kiến thức rất từng trải và uyên thâm về triết học, tư tưởng,
nhất là Phật học. Phong cách ông bình dân, giản dị đến mức xuề xòa. Ông đã ăn
chay trường hơn 3 năm nay, sống kham khổ và đạm bạc ở một căn phòng nhỏ trong một
mobile home với một người bạn cũng độc thân như ông và cũng là một nhà thơ
nghèo. Nhớ có một lần gần đây, ông tâm sự với tôi: "Đã trên 6 bó rồi, nên
sống theo kiểu tri túc là thanh thản nhất, vui nhất. Tu Chữ - Tu Thơ,
giống như kiểu tu theo Phật pháp. Nói chung là để tu Tâm, dưỡng Tánh, cố gắng
không dính mắc điều gì nữa. Thế là đại phước lắm rồi." Câu nói ngắn gọn,
nhưng được hàm dưỡng một nội lực, một sức sống rất thâm hậu.
Cách nay
hơn một tháng, nhà thơ NLV báo tin cho tôi biết, rằng ông đang chuẩn bị ấn hành
tuyển tập thơ 45 năm (1969-2014) của ông và ông đã gửi toàn bộ thơ trong tuyển
tập nầy cho tôi đọc, với mong muốn tôi viết một số cảm nhận để in vào sách làm
kỷ niệm. Tôi nghĩ, đây cũng là do duyên tiền định không giải thích được. Cũng
do ông khuyến khích và hết sức chân tình (có lẽ do cảm mến, thấu hiểu những nhận
định về thi ca, Phật pháp của tôi trong những lần chuyện trò, tâm tình), nên
trước đây tôi đã mạnh dạn viết 2 bài viết ngắn về 2 tập thơ "Năm Chữ Năm
Câu" và "Năm Chữ Ngàn Câu" của ông trong năm 2014 và đã được ông
đưa vào sách làm Lời Bạt. Lần nầy, tôi bày tỏ thật lòng với ông: "Viết về
thơ anh là một niềm vui thật sự với em. Nhưng phải nói thật, khi đọc lướt qua
tuyển tập 45 năm nầy thì em cảm thấy choáng ngợp. Sợ rằng không đủ sức đâu anh
à." Ông cười và nói: "Khoa cứ viết thoải mái. Không khiên cưỡng, áp lực
gì cả thì sẽ viết được thôi. Chủ yếu là sự cảm nhận về thơ, không hàn lâm lý luận
gì cả. Cảm nhận như thế nào thì viết như thế ấy. Tôi muốn nhận nơi Khoa một tri
tình, một cảm nhận về thơ tôi của một người bạn trẻ thuộc thế hệ sau. Đó cũng
là niềm mong mỏi duy nhất và là nguồn an ủi đối với tôi rồi."
Tôi thật
sự bất ngờ và kinh ngạc khi đọc những bài thơ của NLV viết vào những năm
1969-1974. Nhất là 2 bài thơ "Nửa Đêm Thức Dậy Nhìn Mây Trắng" (1969)
và bài thơ "Âm Nhạc" (1970) của ông, tức là thời gian ông mới 17, 18
tuổi, nhưng hồn thơ thật bát ngát dị thường. Xin trích nguyên văn bài thơ
"Nửa Đêm Thức Dậy Nhìn Mây Trắng":
"Lung
linh hồn quê cũ
Mây trắng phủ khắp trời
Nhớ trăng khô hết máu
Muôn trùng dặm núi ơi..."
"Hồn
quê cũ", "mây trắng", hình ảnh xa xôi, diệu vợi về nơi chốn quê
nhà của nhà thơ, nhưng cũng có thể hiểu là nơi chốn nguyên sơ của con người.
"Nhớ trăng khô hết máu", "Trăng" và "Máu", một cảm
xúc không thể diễn tả bằng lời được thông qua cái "Nhớ". Tiếp theo là
tiếng thở dài "Muôn trùng dặm núi ơi... ". Tôi không phân tích hết được
ý nghĩa bát ngát mênh mông của bài thơ, nhưng đọc xong, tâm hồn bỗng trào lên một
cảm xúc khó tả.
Xin trích
tiếp đoạn mở đầu bài thơ "Âm Nhạc":
"Âm
nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời
À ơi! Rượu đỏ hoàng hôn tắt
Ta dắt hồn ta túy lúy chơi..."
Nhịp điệu
của bài thơ ầm ào, thảng thốt, đúng như câu ông viết dưới tựa đề của bài thơ:
"Viết trên nền nhạc symphony số 5 của Beethoven." Một bài thơ rất lạ,
rất bạo liệt, sầu thảm nhưng bi hùng. Tôi nghĩ, đây là một bài thơ rất hay và rất
hiếm của một người làm thơ lúc còn đang ở độ tuổi thanh niên. (Bạn đọc có thể đọc
nguyên văn bài thơ nầy trong tuyển tập).
Khi chuẩn
bị cho bài viết nầy, tôi có email cho nhà thơ NLV, tạm gọi là "phỏng vấn"
ông quan niệm về thơ như thế nào, để làm "nền" cho bài viết, thì nhận
được email hồi đáp của ông, nguyên văn như sau:
"Câu
hỏi của Khoa làm tôi nhớ đến một câu của nhà thơ Bùi Giáng. Trong một cuốn sách
nào đó của ông, tôi không nhớ rõ, đại ý, ông bảo ông bắt chước "giọng"
của Khổng Tử, viết rằng: "Con chim thì ta biết nó bay. Con cá thì ta
biết nó lội. Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ. Nhưng thơ là gì? Thì điều đó
ta không biết." Câu nói của nhà thơ Bùi Giáng thật ly kỳ thơ mộng,
theo kiểu ẩn ngữ lai rai của ông.
Từ tuổi
thiếu niên, hình ảnh "máu me" đã sớm đi vào những bài thơ đầu đời của
tôi, nhất là khi mẹ tôi bị băng huyết, sẩy thai người em thứ năm của tôi mới chừng
hai ba tháng gì đó. Tôi nhớ rất rõ, vào một buổi chiều chạng vạng, sau khi dùng
đôi đũa bếp gắp cái hình hài lầy nhầy chưa tượng hình người của em tôi, bỏ vào
chiếc nồi đất nhỏ, phủ tro lên, đậy nắp lại, hai tay ôm chiếc nồi đất ấy, đi
theo sau ông Nội tôi ra khu nghĩa địa trong làng, gọi là Gò Chùa để chôn cất em
tôi. Chẳng biết vì sao, sau khi rời nghĩa địa trở về nhà, trên đường đi, trong
tâm trí tôi hiện rõ mấy câu thơ, "Mẹ băng huyết giữa đồng/ Đứa em
chưa kịp tượng/ Trôi tuốt ngoài thinh không/ Chập chờn con bướm lượn." Mấy
câu thơ nầy, mãi đến 3 năm sau tôi mới viết ra trên giấy. Cho đến bây giờ, là
bài thơ nằm lòng và là kỷ niệm đẹp nhất trong đời làm thơ của tôi.
Tiếp đến,
năm tôi gần 13 tuổi (1965), đang học lớp đệ ngũ tại trường trung học kỹ thuật
Đà Nẵng, cha tôi và người chú ruột của tôi bị chết thảm trong một vụ án chính
trị, hình ảnh "máu me" lại càng ám ảnh tuổi thơ tôi một cách mãnh liệt
hơn, nên khi chuyển vào Qui Nhơn (1967) để tiếp tục việc học, tôi lại viết tiếp
mấy câu thơ song thất lục bát: "Thơ là máu, kinh kỳ là nguyệt/ Nguyệt
đầy vơi ta biết làm sao/ Nguyệt cuồng trong máu lao xao/ Nói chi sấm chẻ ngàn
cao giữa mùa..." Bài thơ khoảng chừng ba bốn khổ gì đó, đến nay tôi
không nhớ hết, nhưng đại thể là sự bộc bạch tâm sự của mình về thơ, về cuộc đời.
Bây giờ đọc lại thì thấy ngô nghê, cố làm ra vẻ "trịnh trọng" người lớn,
nhưng thật tình, mỗi khi nhẩm lại những câu thơ nầy, tôi vẫn còn cảm động vô
cùng.
Năm 1987,
lúc đã qua ngưỡng "tam thập" (35 tuổi), tôi viết bài thơ "Thanh
Ca". Bài thơ viết một mạch, khá dài, không dấu chấm dấu phẩy gì hết, để
bày tỏ quan niệm về thơ của mình, giờ đọc lại cũng thấy ngồ ngộ, hay hay vì cái
ý bảng lảng phiêu bồng của nó. (Bài thơ nầy, tôi cũng in lại trong tuyển tập).
Tiếp sau đó, cảm nhận về thơ gắn liền với số phận, số kiếp con người giữa thời
buổi "tang thương ngẫu lục", tôi đã viết:
"Ta
quí thơ như máu
Quí gạo cũng tương đương
Thời nhiễu nhương lộn lạo
Máu cũng phí như thường... "
(Thiệt
Tình - Âm Vang Và Sắc Màu)
Đến bây
giờ, đã bước qua ngưỡng "lục thập" (63 tuổi), sống nơi đất khách quê
người, tôi chỉ còn biết thơ là nơi chốn để mình tu: Tu Chữ và Tu Thơ. Tu như vậy
cũng là tu Tâm theo nghĩa của Phật pháp. Tu để chờ một chuyến trở về cuối cùng
cho một đời người. Như một vị thiền sư nào đó đã nói: "Ta từ hư không
mà đến đây, rồi lại trở về với hư không." Nhẹ nhàng. Thanh thản. Cố gắng
không dính mắc điều gì nữa. Vậy thôi!
Câu Khoa
hỏi, thật tình tôi chẳng biết trả lời như thế nào cho thỏa. Mỗi một người làm
thơ, đọc thơ đều có quan niệm riêng, cách nhìn riêng về thơ. Cả tỉ tỉ quan niệm,
cách nhìn, cách hiểu, cách cảm nhận, làm sao tổng hợp cho hết được. Chỉ biết rằng,
một bài thơ, một câu thơ mình viết ra (tất nhiên, trước hết là để bày tỏ nỗi
lòng của mình), khi được công bố trên báo chí, hay các phương tiện truyền thông
khác, gặp được sự cộng hưởng, cảm ứng của người đọc thì xem như mình được an ủi,
hạnh phúc lớn lắm rồi. Còn quan niệm thơ là gì? Tôi xin phép được quay trở lại
câu của nhà thơ Bùi Giáng nêu trên là đề huề, vui vẻ, thơ mộng nhất vậy."
Đọc thư
phúc đáp của nhà thơ NLV, tôi nhận ra được tính xuyên suốt và nhất quán trong
thơ ông: "Máu" và "Âm" chính là định mệnh của thơ NLV, cũng
chính là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ NLV, kể từ lúc tóc còn xanh cho đến
lúc tóc đã bạc trắng như bây giờ.
Thật vậy,
từ những bài thơ được sưu tầm lại (1969-1975) cho đến những tập thơ "Âm
Vang Và Sắc Màu", "Phương Ý", "Hòa Âm Âm Âm Âm... ",
"Huyết Âm", "Tinh Âm", "Bốn Câu Thất Huyền Âm",
"Tám Câu Lục Huyền Âm", "Năm Chữ Năm Câu", "Năm Chữ
Ngàn Câu", thơ NLV là một chuỗi dài vang vọng bất tận của "Máu"
và "Âm" bằng đủ loại tiết tấu: Lắng đọng, trầm hùng, bi tráng, bi thiết,
bạo liệt, dữ dội, tịch mịch... Tôi nhớ, nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh trong một
bài viết, đã mô tả, ví von một cách hình ảnh, đại ý rằng, mỗi tập thơ của NLV
là một dòng chảy nhỏ của một con suối, để rồi hợp thành một dòng chảy lớn của một
con sông, trôi ra biển rộng muôn trùng. Tôi nghĩ, nhận xét nầy phần nào đã nói
lên được một cách khái quát về đặc điểm và tầm vóc thơ NLV.
"Hòa
Âm Âm Âm Âm... " là tập thơ sung mãn và phong phú nhất của NLV, được ấn
hành sau 5 năm ông định cư tại Hoa Kỳ. Khác hẳn với "Âm Vang Và Sắc
Màu", "Phương Ý" trước đây khi còn ở Việt Nam, với tính cô đọng,
thâm trầm - "Hòa Âm Âm Âm Âm... " đã hòa quyện âm vang bi hùng, bi
tráng một cách mênh mông, sâu thẳm của nhà thơ khi phải sống cô độc, chịu nhiều
cảnh ngộ bi kịch thương tâm nơi xứ người. Theo tôi, đây là tập thơ "đỉnh
cao" của NLV, hội tụ tinh túy tài hoa, với tư tưởng rất uyên áo. Chính nhà
thơ Nguyễn Tôn Nhan, người bạn tri âm tri kỷ của NLV, trong bức thư gửi cho bạn
mình, đã viết một cách thảng thốt trước Thi Ca của NLV: “Chỉ thấy
Tính-Linh, phải đâu là chữ!....Tôi phải cảm ơn Vỵ nhiều lắm. Hãy cho tôi đọc
nhiều thơ nữa đi, đọc suốt đời càng thích. Vì “chữ” của Vỵ đâu phải chỉ là “chữ”
không thôi, nó chính là TÍNH-LINH của chúng ta, dù chỉ là loại Tính-Linh đầy những
máu.”
Tiếp sau
đó, liên tục các tập thơ "Huyết Âm" dữ dội, bạo liệt tuôn trào;
"Tinh Âm" lắng đọng, bi thiết; "Bốn Câu Thất Huyền Âm" và
"Tám Câu Lục Huyền Âm" càng lắng đọng và trầm sâu hơn; "Năm Chữ
Năm Câu" và "Năm Chữ Ngàn Câu" vi diệu và uyên áo, thơ NLV đã thực
sự đi đến "mùa hương chín" của Thi Ca và Tư Tưởng.
Đặc biệt,
tập thơ "Huyết Âm", theo tôi, là tập thơ dữ dội và bạo liệt nhất về sức
Thấy và sức Nghe của nhà thơ. Ngay đầu tập thơ, nhà thơ viết 4 câu thơ song thất
lục bát, mỗi chữ đều viết hoa (có lẽ là để nhấn mạnh từng chữ):
Thơ Muôn Trùng Phơ Phất Nẻo Xa
Ngàn Thâu Bích Huyết Chiêu Hoa
Ngàn Trùng U Mộng Người-Ma U Hoài..."
Tuy không
hiểu hết các ẩn dụ của nhà thơ trong 4 câu thơ trên, nhưng khi đọc lên một cách
chậm rãi, tôi cảm nhận được khí lực, thần thái của thơ thật dữ dội, uyên áo,
nói về thân phận của kiếp người.
Nhà thơ
Lý Đợi, trong Lời Bạt cho "Huyết Âm" đã trích lại giải thích ý nghĩa
của "Huyết Âm" mà nhà thơ NLV đã giãi bày: "Huyết, trong từ
Hán Việt có hai nghĩa chính: Máu và Lệ. Huyết Âm: Âm vang của Máu và Lệ, khóc
cười đủ các kiểu cho nó xôm tụ. Lấy hào cửu cửu làm gốc, nên đánh số từ 1 đến
81 (9 x 9 = 81), thêm một bài ngoại tập: Huyết Âm Tây Tạng, như một tiếng thở
dài giữa thời mạt pháp." Trong đoạn cuối của Lời Bạt, nhà thơ Lý Đợi
viết:
"Đọc
thơ là đọc giữa hai hàng chữ, giữa hai con âm, nhiều người đã nói như vậy, nghe
đã mòn tai. Nhưng quả là có những trường hợp, không làm như vậy không được.
Nguyễn Lương Vỵ đã tìm mọi cách để nhét những ưu uất của mình vào giữa hai con
âm. Tìm cách hướng người đọc vào những động thái bên lề, nhằm quên đi một thực
tại đang được dựng xây bằng máu và nước mắt.
Trong một
cách nào đó, đọc Huyết Âm cũng như là:
Dục cùng thiên lý mục
Cánh thướng nhất tằng lâu
(Muốn tận cái nhìn ngàn dặm
Thì cứ lên thêm một tầng lầu nữa).
(Vương Chi Hoán)"
Như vậy
đã rõ, Huyết: Máu và Lệ, "Huyết" và "Âm" chắc là để minh chứng,
minh giải thêm cõi thơ, hồn thơ NLV mà thôi. Thơ trong "Huyết Âm" phần
lớn là thơ ngắn, chỉ có đánh số mà không có tựa đề, có khi rất ngắn nhưng dữ dội
và quyết liệt bằng sức Thấy sức Nghe xuyên thấu và kinh hoàng của nhà thơ:
"Róc
huyết âm
Đá khóc
Xanh
Tuyệt đối... "
"Mẹ huyền vi
Rung huyết
Đón tinh Cha
A! Gái huyền
Đẻ đái
Cái Người-Ma"
"Hoàng hôn muôn thế kỷ sau
Dứt khoát
Thơ
Còn
Đỏ
Au…"
Đến
"Tinh Âm", thơ càng cô đọng và vi diệu hơn: "Ôi con chữ máu
rung / Ôi cái nghĩa kỳ cùng... " hay 3 bài thơ Nhị Tuyệt: "Nghĩa
đời trong lá khô / Ý đời trong mầm biếc…" - "Cồi máu phơi tiếng hú /
Óc phơi ngọn nến mù…" - "Muôn chiều. Chiều hết đời / Muôn đời. Đời
phơi thây…" Thơ đã đạt đến "ý tại ngôn ngoại", không
thể nghĩ bàn, chỉ còn lại sự cảm nhận, rung động, cảm ứng của người đọc thơ với
thơ mà thôi.
Những tập
thơ tiếp sau, "Bốn Câu Thất Huyền Âm", "Tám Câu Lục Huyền
Âm", "Năm Chữ Năm Câu", "Năm Chữ Ngàn Câu", thơ NLV
ngày càng đi sâu vào cấu trúc tiếng Việt với nhiều thể loại thơ truyền thống,
mà tập trung nhất, phong phú nhất là 2 tập thơ "Năm Chữ Năm Câu",
"Năm Chữ Ngàn Câu". Đây là 2 tập thơ thể hiện nỗ lực sáng tạo rất độc
đáo và vi diệu của nhà thơ, với ngôn ngữ thơ rất bình dị, trong sáng, đa phần
là âm thuần Việt, nhưng ý tứ, tư tưởng trong thơ rất mênh mông, sâu thẳm về sức
Nhìn, sức Thấy và sức Nghe:
"nhìn
trong thơ thấy đạo
nhìn trong đạo thấy thơ
nhìn trong thơ thấy gạo
nhìn trong gạo thấy mình
có-không thiệt rốt ráo"
"nhìn trong hạt thấy mầm
nhìn trong mầm thấy mộ
nhìn trong mộ thấy âm
nhìn trong âm thấy số
ôi tượng số điếc câm…"
hay là:
"thấy
và nghe huyết tan
từ rất lâu trong chữ
chữ lòn trong nắng tàn
ta lòn trong mưa lụi
lượm lên phủi hú vang…"
(Trích Năm Chữ Năm Câu)
Khi tôi đặt
vấn đề với nhà thơ NLV, vì sao cấu trúc, thể loại trong thơ ông đa phần là thơ
có vần theo kiểu truyền thống mà ít thơ tự do hay không có thơ theo kiểu hậu hiện
đại? Ông trả lời chậm rãi và chân thành: "Có thể là do tôi đã quen với
cách sống kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng với chính bản thân từ lúc
thiếu thời.
Càng sống, càng trải nghiệm, thì tôi lại nhận ra rằng: Kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng cũng chính là phương pháp tu tập tốt nhất để bản thân mình ngày càng được hoàn thiện, thật sự đạt đến tự do, tự tại, được sống một cách trọn vẹn với cái-đang-là bất tuyệt. Thiển nghĩ, thơ cũng vậy. Thơ có vần, tuân thủ theo luật tắc, hoàn toàn không đồng nghĩa với gò bó, câu thúc, khô khan, cổ hủ mà như ý trên đã giãi bày cái diệu nghĩa của kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng đối với người mà tôi tạm gọi là Tu Chữ, Tu Thơ. Thể loại, trường phái, cấu trúc trong thơ không phải là vấn đề quan trọng, sinh tử của thơ, mà suy cho cùng, chính là hồn vía của chữ, của thơ. Thông qua sức Thấy và sức Nghe, làm thế nào đểhồn vía của chữ, của thơ tạo được rung cảm cho chính mình, rồi sau đó cảm ứng đến với người đọc. Đó mới là cái chính, cái cốt lõi, cái đáng suy nghĩ nhất trong quá trình sáng tạo thơ. Chỉ xin mạo muội lạm bàn đôi điều như vậy thôi."
Càng sống, càng trải nghiệm, thì tôi lại nhận ra rằng: Kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng cũng chính là phương pháp tu tập tốt nhất để bản thân mình ngày càng được hoàn thiện, thật sự đạt đến tự do, tự tại, được sống một cách trọn vẹn với cái-đang-là bất tuyệt. Thiển nghĩ, thơ cũng vậy. Thơ có vần, tuân thủ theo luật tắc, hoàn toàn không đồng nghĩa với gò bó, câu thúc, khô khan, cổ hủ mà như ý trên đã giãi bày cái diệu nghĩa của kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng đối với người mà tôi tạm gọi là Tu Chữ, Tu Thơ. Thể loại, trường phái, cấu trúc trong thơ không phải là vấn đề quan trọng, sinh tử của thơ, mà suy cho cùng, chính là hồn vía của chữ, của thơ. Thông qua sức Thấy và sức Nghe, làm thế nào đểhồn vía của chữ, của thơ tạo được rung cảm cho chính mình, rồi sau đó cảm ứng đến với người đọc. Đó mới là cái chính, cái cốt lõi, cái đáng suy nghĩ nhất trong quá trình sáng tạo thơ. Chỉ xin mạo muội lạm bàn đôi điều như vậy thôi."
Tôi rất
thấm thía về những giãi bày của ông. Cũng từ giãi bày trên, có thể chiêm nghiệm
thêm rằng, quá trình sáng tạo thơ, cũng là quá trình tu tập về tâm thức, hiểu
theo nghĩa tích cực nhất, nhân bản nhất:
"Mỗi
chữ mỗi kiếp cháy sáng rực
Thâm âm thâm u từ lâu nay..."
(Huyết
Âm)
Đối với
tôi, tuyển tập thơ 45 năm của NLV là một trong những tác phẩm rất có giá trị của
thi ca đương đại Việt Nam. Tôi rất tâm đắc nhận định của nhà thơ Nguyễn Tôn
Nhan về thơ NLV: "Chỉ có Tính-Linh, phải đâu là chữ!". Thật vậy, càng
đọc và chiêm nghiệm thơ NLV, chữ thơ NLV không còn là những con chữ bình thường
nữa, mà chữ thơ đã trở thành hồn vía, thành Tính-Linh. Mỗi chữ thơ, câu thơ,
bài thơ của NLV đã được viết ra từ một tâm lực đầy kỷ luật, kham nhẫn và
chịu đựng, với tình yêu tận hiến cho thơ một cách tha thiết và mãnh liệt.
Vì vậy, tôi nghĩ, nội lực thơ của NLV ngày càng thâm hậu theo thời gian, với một
hồn thơ mênh mông và sâu thẳm của Nhân Bản và Minh Triết.
Tính-Linh
trong thơ NLV là "Chữ nén huyền âm Tượng Số ngân dài" (Huyết Âm). Sức
"nén", sức cô đọng của chữ để trở thành "huyền âm Tượng Số ngân
dài" trước thử thách khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng. Đó cũng
chính là giá trị nội tại của thơ NLV, "Nghĩa đời trong lá khô / Ý đời
trong mầm biếc". Đó cũng chính là bản hòa âm bất tuyệt của cái-đang-là,
cái Thực Tại Hiện Tiền đang trôi chảy trong từng sát na. Tôi thật sự cảm động
khi đọc 4 câu thơ sau đây:
"Hỏi
cái Mình ngồi đó
Có nhớ cái Ta xa?
Chợt quên rồi chợt nhớ
Thảng thốt giọt lệ sa."
(Trích Năm Chữ Ngàn Câu)
Câu hỏi
thoạt nghe qua, có vẻ rất bình thường, nhưng có mấy ai đã hỏi với chính mình
như vậy, để rồi "Thảng thốt giọt lệ sa"?!
Nhà thơ
nhẹ nhàng viết trong "Lời Thưa" tập thơ "Năm Chữ Ngàn Câu",
từ tốn nhưng đầy niềm bi mẫn, cảm hoài:
"Câu
hỏi đã từ rất lâu, không lời vọng lại hồi đáp.
Câu trả lời vẫn còn im lắng, ngất xanh trong những giấc mộng dị thường."
Câu
hỏi của NLV cũng chính là câu hỏi của William Shakespeare đã đặt ra cho Tây
Phương từ khá lâu theo lối trực tiếp: “To be or not to be, that is the
question” (Tồn tại hay không tồn tại. Đó chính là vấn đề). Đó cũng là câu hỏi về
“Being” mà Martin Heidegger đã dành trọn đời để soi sáng ý nghĩa của nó.
Nhưng để có thể tiếp xúc với câu hỏi của “Being”, đòi hỏi chúng ta cần có một
thái độ thích hợp đối với ngôn ngữ, mà theo Heidegger thì:
“As soon
as we have the thing before our eyes, and in our hearts an ear for the word,
thinking propers.” (Heidegger - Building Dwelling Thinking).
Tạm dịch:
“Ngay
khi một điều gì phơi bày ra trước mắt, và trong tâm chúng ta biết lắng nghe
ngôn từ (cảm ứng cho chính nó), ấy là lúc tư duy khai phóng.”
Tôi rất hạnh
phúc là một độc giả rất yêu và quí thơ NLV, một người em, người bạn vong niên của
nhà thơ NLV. Bài viết nầy, tạm gọi là chút tình tri ngộ, tri tình, tri ân cùng
ông giữa cõi đời và cõi người rất mong manh, mộng ảo nầy. Và, cũng giống như
nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, tôi rất mong sẽ được đọc thơ NLV nhiều hơn nữa, vì thơ
NLV "Chỉ thấy Tính-Linh, phải đâu là chữ!... nó chính là TÍNH-LINH của
chúng ta, dù chỉ là loại Tính-Linh đầy những máu."
Tô Đăng Khoa




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét