Bình một số bài thơ hay thế kỷ mới
“Tôi
cho là từ chất liệu đời sống trở thành văn chương giống như gạo nấu thành cơm
và rượu. Văn xuôi của chúng tôi là cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc
đời…" - nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
NGUYỄN
QUANG SÁNG
Rượu
Trong
mâm rượu
Nếu
nói xấu người vắng mặt
Rượu
sẽ thành thuốc độc.
Trong
mâm rượu
Nhắc
nhớ người vắng mặt
Rượu
sẽ ngọt ngào nước thánh
Ta
rót vào hồn nỗi nhớ thương.
Lời
bình
Chỉ
biết Nguyễn Quang Sáng qua văn xuôi, tôi ngạc nhiên thấy ông viết bài thơ trên
trong tập thơ giấy dó bán đấu giá trong ngày thơ Việt Nam lần thứ 5 của Ban Thơ
Đương đại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (thu được 286 triệu đồng làm quà
tặng trẻ em nhiễm chất độc da cam). Tôi hỏi ông về bài thơ này, ông nói:
-
Tôi làm thơ từ lâu, và vẫn thường làm, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa đăng
báo. Rượu là một trong những bài thơ dở đó của tôi. Tôi cho là
từ chất liệu đời sống trở thành văn chương giống như gạo nấu thành cơm và rượu.
Văn xuôi của chúng tôi là cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc đời.
Thơ
và rượu, cổ kim đông tây đã đề cập đến nhiều nhưng so sánh như trên vẫn là
những ý mới mẻ lý thú.
Trong
bài Rượu, Nguyễn Quang Sáng đặt vấn đề về giao tiếp ứng xử bên mâm
rượu, qua đó mỗi người tự thể hiện mình một cách rõ ràng nhất: hay dở, đúng
sai, cao thượng hay thấp hèn… bộc lộ hết mình khó có gì che đậy.
Trong
mâm rượu
Nếu
nói xấu người vắng mặt
Rượu
sẽ thành thuốc độc.
Chữ
“thuốc độc” có nặng quá không? Hơi bị cực đoan chăng? Để dễ chấp nhận, thử thay
bằng chữ nào đó nhẹ hơn một chút, chẳng hạn như “cay đắng”? Thì chính rượu đã
phảng phất vị đó rồi. Suy ngẫm kỹ thì thấy đây là câu nhắc nhở nghiêm khắc cần
thiết đối với tất cả mọi người. “Rượu vào lời ra”, lời hay và lời dở, nói xấu
người vắng mặt, nói sau lưng là tự bộc lộ cái chất tiểu nhân hèn mọn của bản
thân mình. Từ đó rượu lại dễ dẫn dắt ta tới những động thái bất thường khác, dễ
đưa ta vượt qua cái ngưỡng từ tốt qua xấu từ sang ra hèn, mất nhân cách thậm
chí thành thú tính chỉ trong một thoáng chốc! Trong thực tế thiếu gì những
chuyện đau lòng do rượu gây nên. Như thế không nguy hiểm chết người sao? Chữ
“thuốc độc” có tác dụng như ly rượu mạnh, trở thành từ rất đắc địa. Văn chương
giống như rượu vậy, không chấp nhận sự nửa vời, trung tính, pha loãng.
Trong
mâm rượu
Nhắc
nhớ người vắng mặt…
Chưa
phải là ngợi khen hay nói tốt, chỉ cần nhắc nhớ thôi cũng đã quý lắm rồi. Chữ
“nhắc nhớ” rất gợi, dễ rung lên những sợi ân tình từ thẳm sâu tiềm thức.
Rượu
sẽ ngọt ngào nước thánh
Cũng
một ly rượu mà sự khác biệt ghê gớm quá: thuốc độc giết người với
nước thánh cứu người. Đoạn trên nghiêm khắc nhắc nhở, đoạn dưới thủ
thỉ ân tình chứa chan nhân ái:
Ta
rót vào hồn nỗi nhớ thương.
Là
“nước thánh”, trong đó nỗi nhớ thương hòa vào ly rượu thấm đẫm tâm hồn ta.
Nguyễn Quang Sáng trải nghiệm nhiều, ông đúc kết tình người, lẽ đời trong một
bài thơ ngắn: từ đây lại đặt ra vấn đề không nhỏ trong cuộc sống, có thể khái
quát thành một phạm trù văn hóa, đó là văn hóa trong tiệc rượu, gọi một cách
dân dã kiểu Nam Bộ là văn hóa nhậu.
Giống
như bản tính thẳng thắn bộc trực của tác giả, bài thơ không hoa lá màu mè đi
thẳng vào cốt lõi nhân văn, đụng đến điều gan ruột trong giao tiếp ứng xử, giản
dị mà thấm thía.
TRẦN
QUANG QUÝ
Lời
Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
Chiếc
lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng
chiếc
lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp
chiếc
lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn.
Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
cám
dỗ xui nhiều điều dại dột
đời
cũng dạy ta không thể uốn cong
dù
phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội
Trên
chiếc lưỡi có lời tổ tiên
Trên
chiếc lưỡi có vị đắng sự thật
Trên
chiễc lưỡi có vị ngọt môi em
Trên
chiếc lưỡi có lời thề nước mắt
Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
dẫu
những lời em làm ta mềm lòng
dẫu
tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi.
Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác
một
chiếc lưỡi mang điều bí mật
và
điều này chỉ người biết mà thôi.
Lời
bình
Mới
đọc câu mở đầu đã ngỡ ngàng, “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người
khác”! Ai mà chả nói bằng chính chiếc lưỡi của mình? Nhà thơ đưa ra
một câu rất hiển nhiên, có vẻ như “ai mà chả biết”! Câu này thừa chăng? Trong
bài thơ có một câu thừa thì chỉ có mà vứt cả bài đi thôi! Nhưng sao đọc câu thơ
này ta lại giật mình? Có cái gì bí ẩn ở đây? Ngẫm lại xem, có khi nào ta nói,
mà lời phát ra, có khi cả giọng nói không phải thật sự của ta mà là của người
nảo người nào ấy? Quả có không ít lần như thế! Cái người nào ấy sai khiến ta,
xúi giục ta, làm cho ta không còn là ta nữa qua lời nói. Thì ra nhà thơ viết
cái điều “hiển nhiên” để kích thích, để gợi ra cái điều không bình thường kia ở
trong mỗi chúng ta. Và cái điều “mượn lưỡi của người khác” ấy có lẽ chả hay ho
gì.
Và
để làm cái việc nói bằng chiếc lưỡi của chính mình, tưởng như nhẹ nhàng thôi
lại hóa ra không phải đơn giản: “Chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ
vựng/ chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp/ chiếc
lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn”. Trời ơi, khó khăn nguy hiểm
đến thế kia ư? Lại còn bị hành hình nữa! Ôi thương cho cái lưỡi quá!
“Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Tác
giả nhắc lại và phát triển thêm, cái lưỡi từng bị “cám dỗ xui nhiều
điều dại dột”. Nói bằng chiếc lưỡi của người khác thì tệ hại thế đấy, nó có
thể đổi trắng thay đen, từ ngay thành gian, từ tốt thành xấu, từ thiện thành
ác… chỉ còn là khoảng cách rất nhỏ, rất mong manh! Nhưng may mắn thay, có ông
thày là cuộc đời từng dạy cho:“không thể uốn cong” Và vì thế mình
có thể bị thất bại, bị đau đớn ê chề: “dù phần thắng nhiều khi thuộc
những bầy cơ hội”. Phải, ta từng chứng kiến không ít cái cảnh “tiểu nhân
đắc trí”.
Nhà
thơ nhắc:“Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên”, nên nó thiêng liêng lắm!
Và “có vị đắng của sự thật, có vị ngọt môi em, có lời thề nước mắt” nên
nó mến thương, cao quý lắm!
Cho
nên phải giữ cho lưỡi của mình lúc nào cũng thật sự là của mình, không uốn lưỡi
vì người khác cả khi “dẫu những lời em làm ta mềm lòng/ dẫu tình yêu em
từng làm ta cứng lưỡi”.
Ôi,
cái lưỡi, tưởng đơn giản mà thực ra vô cùng bí ẩn, “lưỡi không xương lắm điều
lắt léo” câu này để nói về mình hay về người khác đều được cả, nhưng trước hết
phải cảnh giác với chính mình “một chiếc lưỡi mang điều bí mật…”
“Tôi
không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Mới đọc tưởng câu thơ thừa, vô
dụng, nhưng chạm vào sâu thẳm làm ta giật mình, mới thấy là vô cùng hệ trọng.
Có phải vì thế mà tác giả nhắc đến bốn lần, đủ biết cái điều tưởng hiển nhiên
đơn giản mà khó nhọc, mà hệ trọng biết chừng nào.
“dẫu
tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi” là
câu thơ hay nhất trong bài.
Dùng
cái phi lý hình thức để đạt cái hợp lý nội dung, bài thơ làm ta suy ngẫm về
nhiều lẽ ở đời đặc biệt là mỗi khi ta sử dụng đến cái lưỡi của mình để phát
ngôn.
LY
HOÀNG LY
Mở
nút áo
Chầm
chậm, mở một chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo
Chầm
chậm, mở ba chiếc nút áo
Soi vào gương, chầm chậm, mở chiếc
nút thứ tư
Soi vào gương, chầm chậm, mở chiếc
nút thứ tư
Chầm
chậm, mở năm chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở nút thứ sáu...
Soi vào gương chầm chậm, mở nút thứ sáu...
Tìm
hoài không thấy nút thứ sáu
Soi vào gương, cố tìm nút thứ sáu,
nút thứ bảy, thứ tám, thứ chín...
Soi vào gương, cố tìm nút thứ sáu,
nút thứ bảy, thứ tám, thứ chín...
Nhưng
áo chỉ năm nút
Nhưng đêm là vô tận
Nhưng đêm là vô tận
Mở
mãi, muốn mở mãi
Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm
Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm
Mở
mãi, muốn mở mãi
Bầu ngực này căng đêm
Soi vào gương
Bất lực và khóc
Bầu ngực này căng đêm
Soi vào gương
Bất lực và khóc
Trong
vô vàn những giọt nước mắt
Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.
Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.
Lời
bình
Thiếu
nữ đứng soi gương, lần lượt mở nút áo của mình. Một-hai-ba-bốn-năm… những thao
tác bình thường quen thuộc ai ai cũng từng làm hàng ngày, không có gì đặc biệt,
đến mức chả có gì đáng nói. Ở khúc 1-2-3, tác giả lại dềnh dàng, rời rạc. Nhưng
mở hết năm chiếc nút rồi, sao lại đòi mở nút thứ sáu, nút này không có. Mấu
chốt của vấn đề bắt đầu từ cái nút tưởng tượng này.
Đã
biết chắc nút thứ sáu không có, sao lại đòi mở nút bảy-tám-chín? “Mở
mãi, muốn mở mãi/ Mở bầu trời đêm trong lồng ngực”. À, tác giả muốn mở cái
vùng tối bí ẩn của bản thể mình. Nếu vậy thì không phải bảy-tám-chín nút đâu,
mà còn nhiều nữa, thăm thẳm vô cùng, mênh mang vô định… Có tâm hồn, tư tưởng,
có ý thức, tiềm thức, linh cảm, có nỗi niềm, có khát vọng, buồn vui, hạnh phúc,
khổ đau, có thiện, có ác… Tác giả không nói ra những điều này, nhưng tình
huống, hoàn cảnh gợi ra khiến người đọc suy ngẫm mà hiển hiện bao nhiêu điều cụ
thể và mơ hồ.
Trở
lại những cái nút áo vật thể, vẫn chỉ có năm nút, làm sao đây? “Áo chỉ
năm nút/ Nhưng đêm là vô tận” tương phản giữa hữu hạn và vô cùng, tình
cảnh chơi vơi chới với trước cái vô cùng thật đáng thương.
“Mở
mãi, muốn mở mãi/ Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm”. Phần trắng hiện thực thì quá ư là hạn
chế, cô bé hy vọng ở cái phần đêm siêu thực cơ. Phần siêu thực
mới có thể giải đáp được những câu hỏi rất thực tế và phức tạp của cuộc đời.
Nhưng không được!
Hai
khúc cuối: Vẫn
tiếp tục“Mở mãi, muốn mở mãi/ Bầu ngực này căng đêm”. Bản thể chứa đựng
nhiều lắm, bí mật lắm, vẫn là thân thể thịt da mình sao mà mênh mang, xa lạ?
Khao khát muốn tìm hiểu khám phá mà đành bó tay. “Bất lực và khóc”.
Khóc
thật sự, khóc như mưa: “trong vô vàn những giọt nước mắt”… Đau
khổ chăng? Ân hận điều gì chăng? Xót xa vì mình không hiểu được mình chăng?
Muốn phơi bày tâm can nỗi niềm gì chăng? Tình cảm tha thiết chân thành. Cũng
may, mãi đến phút cuối này, bầu trời đêm trong ngực mới cảm thông:“Một giọt
đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”. Giọt đêm tưởng tượng thôi, nhưng hiển hiện
trước mắt ta lại rất thật. Rất thật nhưng ta cũng không thể nói đó là giọt gì.
Thôi thì giọt gì cũng được, mỗi người cảm nhận một cách. Bài thơ đầy tâm trạng
nhưng không rõ tâm trạng gì, lý do gì, khát khao gì, hay đang bế tắc điều gì?…
Hình
tượng thiếu nữ trước gương mở dần từng chiếc nút áo rất đẹp và ấn tượng. Nhưng
không phải để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tòa thiên nhiên tuyệt tác ấy, mà tác giả gợi
cho ta một cuộc thăm dò, khám phá bản thể rất lý thú và kỳ bí. Năm chiếc nút áo
gợi cho người đọc nghĩ đến cái cơ chế đóng kín mà tác giả muốn cởi bỏ, nhưng
chỉ cởi được phần hữu hình, còn phần vô hình vô hạn thì bất lực.
Muốn
giải thoát, con người chỉ gặp đớn đau.
Tứ
thơ được thiết kế chặt chẽ, mượn cái thật (năm nút áo) để nói cái không thật
(bầu trời đêm trong ngực); mượn cái không thật (bầu trời đêm…) để nói cái rất
thật (tâm trạng, tự vấn, cuộc tìm tòi khám phá chính mình, muốn giãi bày, giải
thoát…). Cả bài thơ không có chữ nào mới nhưng cách diễn đạt tự nhiên mới mẻ,
bao hàm ý mới lạ và sâu sắc...
NGUYỄN VŨ TIỀM


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét