Theo
dòng của Thạch Lam
trong
cái nhìn đối sánh với
lý
luận văn học ở Việt Nam hiện nay
Tác
phẩm Theo dòng tiếp tục phát huy giá trị học thuật trong dòng
chảy của tiến trình hiện đại hóa lý luận văn học dân tộc đang đứng trước rất
nhiều thách thức của thời đại đặt ra.
1. Theo
dòng của Thạch Lam là một tập tiểu luận phê bình tập hợp những bài báo
đăng rải rác trên hai tờ báo Ngày Nay và Chủ Nhật vào
thời điểm 1939 đến 1940. Tập sách mỏng này là một đặc sắc bởi đây là tập lý
thuyết văn nghệ độc nhất của Thạch Lam, của nhóm Tự lực văn đoàn và của cả văn
học mới trước 1940.
Mặc
dù Vũ Ngọc Phan cho rằng Theo dòng “ý tưởng rất rời rạc, tan
tác như bèo trôi” (5/tr.565), còn Thế Phong đánh giá “Theo dòng là
một cuốn sách nghị luận về viết văn… cũng chỉ là một thứ khảo luận, chưa có ứng
dụng của tác giả; cho nên thiếu sâu sắc như những thiên hồi ký của nhà văn nổi
tiếng thế giới viết về kinh nghiệm văn chương đời mình” (4/tr.574) nhưng với độ
lùi thời gian đủ để nhìn lại và suy ngẫm, đặt Theo dòng trong
dòng chảy của tiến trình hiện đại hóa lý luận văn học ở Việt Nam trong thế kỷ
XX, đặc biệt là công cuộc đổi mới lý luận văn học từ 1986 đến nay,
có thể thấy tác phẩm này của Thạch Lam chứa đựng nhiều quan điểm lý luận văn
học dù mới ở mức độ sơ khởi nhưng rất hiện đại, tiến bộ cần được xem xét, đánh
giá lại cho thỏa đáng.
2.
Tập tiểu luận mang tên Theo dòng (đồng thời cũng là tên mục Theo
dòngtrên tờ Ngày nay do Thạch Lam phụ trách) có nghĩa là
theo dòng tư tưởng, theo dòng thời gian không có sự sắp đặt thứ tự trước. Có lẽ
vì ý hướng như vậy nên dòng tư tưởng của tác giả được thể hiện một cách đứt
đoạn, không có chương mục và không liên kết thông suốt như một công trình khoa
học. Dường như ý kiến của Thạch Lam xung quanh các vấn đề lý thuyết văn học
được phát biểu như một sự đúc kết từ kinh nghiệm bản thân ông với vai tròvừa
là người sáng tác vừa là người đọc tác phẩm văn học. Xung quanh các ý
kiến của Thạch Lam có thể nhận thấy ông quan tâm đến khá toàn diện các vấn
đề lý luận văn học như: tư duy nghệ thuật của nhà văn, tác phẩm
văn học, chức năng của văn học, nhân vật trong tác phẩm, tiếp nhận văn học, phê
bình văn học. Đã có một số nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn
Thị Kiều Anh, Đinh Hùng, Nguyễn Văn Tùng,… ít nhiều đề cập đến Theo
dòng ở các góc độ khác nhau như lý luận về thể loại tiểu thuyết, sự
thành thực và thái độ trí thức,... Trong bài viết này chúng tôi cố gắng tập
trung làm rõ hơn quan niệm của Thạch Lam về hai phương diện lý luận cơ bản: Vấn
đề nhà văn – chủ thể sáng tác và vấn đề người đọc với tiếp nhận văn học.
Đặt trong cái nhìn đối sánh, liên hệ với tư duy lý luận văn học hiện đại ở Việt
Nam sau nhiều năm tiếp thu lý luận hiện đại thế giới để đổi mới và phát triển,
hy vọng góp thêm tiếng nói khẳng định thành tựu văn nghiệp của Thạch Lam nói
riêng và Tự lực văn đoàn nói chung.
2.1.
Lý luận hiện đại ngày nay thừa nhận chỉ có những người nghệ sĩ có tiềm lực tinh
thần, có tài năng và phẩm chất đặc biệt mới có thể sáng tạo nên tác phẩm văn
học nghệ thuật. Trong Theo dòng, bàn đến lao động của nhà văn,
Thạch Lam cho rằng viết văn là một nghề “khó nhọc, biết bao công tìm”. Ông phê
phán lối viết dễ dãi “không muốn có một tị cố công nào” (5/tr. 488 ), chỉ cốt
viết cho xong, “thế nào cũng được” (5/tr.488). Ông đồng tình và dẫn câu nói của
A. Gide: “Có hai mươi cách diễn đạt ý tưởng, nhưng chỉ có một cách là đúng”. Để
đi đến được cách đúng ấy nhà văn phải mất rất nhiều thời gian, “đổ mồ hôi, sôi
nước mắt” trên cánh đồng chữ nghĩa. Như vậy trong quan niệm của Thạch Lam tài
năng chính là kiên nhẫn, việc kiên nhẫn tìm tòi để phát hiện và diễn
đạt một cách chính xác hồn cốt, đặc trưng của đối tượng miêu tả là vấn
đề quan trọng hàng đầu trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Lý luận
hiện đại gọi đây là năng lực quan sát. Sáng tác thành công hay
không không hẳn là do đề tài mới lạ mà điều quyết định là ở chỗ người cầm bút
có phát hiện được những điều mới lạ, sâu sắc trong những hiện tượng rất quen
thuộc thông thường hay không. Đúng như Rodin (nhà điêu khắc người Pháp) nói:
“Người đáng gọi bậc thầy là người biết dùng đôi mắt của mình để nhìn những cái
mà người khác cũng thấy, nhưng ở nơi mà người khác nhìn đã quá quen, không thấy
gì nữa, lại phát hiện ra được cái đẹp”. Nhưng vấn đề không phải chỉ dừng lại ở
sự quan sát bề ngoài, Thạch Lam cho rằng đối với nghệ sĩ, quan sát bên
trong, hiểu và tái dựng được sự phong phú, sinh động bên trong của sự vật
hiện tượng mới là điều quan trọng, ông viết: “Một nhà văn biết quan sát, tất
nhiên. Người ta thường hiểu sự quan sát bề ngoài là cái tài chụp hình và ghi
nhớ sự vật. Sự quan sát ấy không đủ và chỉ khiến cho tác phẩm trở nên khô khan
hay có vị khôi hài. Cần hơn là sự quan sát bề trong, khiến nghệ sĩ có thể hiểu
được cái ý nghĩa giấu kín của sự vật, cái trạng thái tâm lý của một cử chỉ hay
một lời nói” (5/ tr.507). Và chỉ khi nào nghệ sĩ có năng lực quan sát
bên trong thì mới có thể làm tròn sứ mệnh cầm bút, mới có thể miêu tả
được thế giới đa dạng, phức tạp như nó vốn có, đi sâu khám phá thế giới bí ẩn
của “con người bên trong con người”.
Đối
với Thạch Lam người nghệ sĩ: “phải làm sống lại trong tiểu thuyết cái không khí
bao bọc lấy vai chính. Phải bày tỏ bằng những hành động cái tâm lý của các nhân
vật. Sự quan sát, bởi thế, rất cần: quan sát đúng, tìm những hành vi chính, đó
là cái tài nghệ sĩ. Những điều nho nhỏ, một nét mặt, một cử chỉ, một giọng nói,
cho chúng ta biết rõ tâm lý một người hơn những công việc và quyết định hệ
trọng, trong lúc ấy người ta xét lại mình. Những cái mà ta coi là nhỏ nhặt, vụn
vặt hay tỉ mỉ chính lại là những cốt yếu của tiểu thuyết hay” (5/tr.496).
Với tài năng và tâm huyết của một nhà văn, Thạch Lam đã sớm đưa ra sự đúc kết lý thuyết văn học như một bài học kinh nghiệm rất đáng trân quý cho những người theo nghiệp sáng tạo văn học - một công việc luôn đòi hỏi rất cao sự tinh tế và nhạy cảm. Người nghệ sĩ như người thợ đãi cát tìm vàng, phải biết phân biệt “vàng” và “thau”, biết chọn lọc, tinh chắt lấy những gì cần thiết nhất (cho dù là rất nhỏ) nhưng có giá trị phục vụ cho chất lượng, hiệu quả nghệ thuật của từng câu văn, trang viết. Lao động của nhà văn là một lao động khó nhọc là vậy.
Với tài năng và tâm huyết của một nhà văn, Thạch Lam đã sớm đưa ra sự đúc kết lý thuyết văn học như một bài học kinh nghiệm rất đáng trân quý cho những người theo nghiệp sáng tạo văn học - một công việc luôn đòi hỏi rất cao sự tinh tế và nhạy cảm. Người nghệ sĩ như người thợ đãi cát tìm vàng, phải biết phân biệt “vàng” và “thau”, biết chọn lọc, tinh chắt lấy những gì cần thiết nhất (cho dù là rất nhỏ) nhưng có giá trị phục vụ cho chất lượng, hiệu quả nghệ thuật của từng câu văn, trang viết. Lao động của nhà văn là một lao động khó nhọc là vậy.
Ngay
từ lúc Tự lực văn đoàn đang dò tìm những bước đi đầu tiên để cách tân, xây dựng
nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Thạch Lam đã tỏ rõ ý thức đoạn tuyệt với lối
viết hời hợt, dễ dãi, đối với ông người cầm bút phải “bỏ hết những cái sáo,
những cái kêu to mà trống rỗng, những cái giả dối đẹp đẽ, tìm cái giản dị, sâu
sắc và cái chân thật, bằng cách quan sát và rung động đúng, đó là công việc các
nghệ sĩ phải làm. Chúng ta cứ là chúng ta, với cái tâm hồn và bản ngã thật của
chúng ta” (5/ tr.497). Ông dẫn lời Robert Honner nói với các thi sĩ: “Trước hết
mình phải thành thực với mình, không bao giờ nên chịu lép vế về một đề bởi thấy
người khác được hoan nghênh vì nó,… chính những đồ trang sức mượn làm hại nhất
cho các thi sĩ” (5/tr.489). Lối viết theo phong trào, màu mè, “bắt chước” người
khác, chạy theo thị hiếu tầm thường, sẽ làm băng hoại nghệ thuật chân chính.
Người nghệ sĩ cần có bản lĩnh kiên định, dám dấn thân để khẳng định cái thật,
cái bình dị mà sâu sắc - đó mới là cái đẹp đích thực của nghệ thuật. Sự
cẩu thả, lười biếng, thiếu sáng tạo trong sáng tác là một trong những vấn đề
Thạch Lam luôn tỏ thái độ phê phán không khoan nhượng, ông không chấp nhận
kiểu nhà văn “không dám nhìn thẳng vào sự thực bao giờ. Trong tác phẩm của họ,
những cảnh tả đều là bịa, không có thật, các nhân vật đều có khuôn sáo tâm lý
sẵn có trong các sách trước” (5/tr.490). Thái độ này cho thấy tư duy nghệ thuật
sắc bén cũng như nhân cách nghệ sĩ của Thạch Lam, ông thấu hiểu một điều giản
dị: muốn là nghệ sĩ đích thực trước hết phải là người thành thật,
nghiêm khắc với chính mình rồi sau đó là thành thật, nhân hậu với cuộc đời qua
những trang văn. Ông viết: “Cái cần đối với nhà văn, phải biết suy xét tâm
hồn mình. Qua tâm hồn ta chúng ta có thể đoán biết được tâm hồn mọi người. Và
chỉ khi nào chúng ta hiểu biết được những trạng thái tâm lý của mình
một cách sâu sắc, chúng ta mới hiểu biết được trạng thái tâm lý người
ngoài”(5/tr.494). Muốn là nhà văn đích thực thì trước hết cần phải biết chính
mình là ai, đã buồn vui cùng cuộc đời như thế nào? Và chỉ có trải nghiệm, trả
lời được những câu hỏi như vậy mới mong chia sẻ được buồn vui với cuộc đời, với
số phận con người. Đó là chân lý hiển nhiên nhưng không phải ai cũng dễ dàng
nhận thấy. Tất nhiên, theo nhà văn sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật, nhưng
một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên một nhà văn có giá trị . Và
với Thạch Lam “không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ
sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi (…) không có gì đáng bỉ
cho một nhà văn hơn là tự dối mình” (5/ tr.489).
Ngẫm
về hai chữ “thành thực” mà Thạch Lam nhiều lần nhắc đến trong Theo dòng,
thiết nghĩ điều này liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa văn học và
hiện thực và đặc biệt là cách ứng xử của nhà văn trước
vấn đề này.
Thạch
Lam cho rằng: “Cái gì nhà văn không cảm thấy mà bịa ra, nó vẫn có vẻ một vật
thừa, một vật vô ích. Không bao giờ tự cảm thấy đôi lông mày cô thiếu nữ giống
như nét xuân sơn mà cứ viết tưởng là hay, nhà văn đó suốt đời chỉ là một người
đi vay mượn, một tâm hồn nghèo nàn đem của người khác đi cầm đồ để mua chút
danh hão cho mình…”(5/ tr. 488).
Khái
niệm “tự cảm thấy” mà Thạch Lam nhấn mạnh phải chăng chính là kết quả
của một quá trình trải nghiệm cuộc sống, nhà văn phải thấu hiểu, thấm thía,
phải nhìn hiện thực bằng nhãn quan đặc biệt – nhãn quan tâm
hồn, tình cảm. Chỉ có “thấu thị” hiện thực như vậy những điều nhà văn viết ra
mới có giá trị nghệ thuật, không “thừa”, không “vô ích”. Xét từ phương diện
nhận thức trên có thể thấy tư duy lý luận của Thạch Lam gần với tư duy lý luận
văn học hiện đại ở Việt Nam hiện nay. Sau bao trăn trở, biện giải, và tiếp thu
lý luận văn học hiện đại thế giới các nhà nghiên cứu lý luận ở ta thống nhất
quan điểm cho rằng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là kết quả của
quá trình người nghệ sĩ tìm tòi, khám phá và cảm nhận đời sống để sáng
tạo theo quy luật của cái đẹp. Hiện thực ấy có thể là cái ước
lệ chứ không nhất thiết phải trùng khít với hiện thực cuộc
sống hiện đang diễn ra trước mắt. Hiện thực trong nghệ thuật là hiện
thực do nhà văn tự cảm thấy bằng sự nhạy bén của mình,
hiện thực không chỉ tồn tại ở tầng hữu thức mà còn chìm ẩn tiềm tàng trong cõi
vô thức, tiềm thức. Như vậy hiện thực trong văn học là trạng thái
nhân sinh do người nghệ sĩ cảm nhận và thể nghiệm - đó
là hiện thực được tái hiện theo nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật. Ở
một góc độ nhất định có thể thấy tư duy lý luận của Thạch Lam đã bắt kịp dòng
chảy của tư duy lý luận hiện đại, thậm chí đi trước thời đại của ông. Với sự
nhạy cảm nghề nghiệp, với khát vọng của một nhà văn chân chính ông hướng đến
khẳng định chân giá trị của người cầm bút: bằng vốn kinh nghiệm sống và
năng lực tư duy của mình, người nghệ sĩ có thể tự sáng tạo một hiện
thực nghệ thuật mang đầy cá tính. Nhà văn phải tâm huyết, đau
đáu với nghề và chỉ khi nào thoát khỏi những cảm xúc sáo mòn, giải
phóng tư duy một cách thực sự thì mới mong có những trang viết để
đời, những trang viết không bị cằn cỗi, thiếu sức sống. Đối với Thạch
Lam “cái thực tài của nhà văn nguồn gốc ở chính tâm hồn nhà văn; một nghệ sĩ
phải có tâm hồn phong phú, những tình cảm dồi dào. Nếu không, nghệ sĩ đó chỉ là
thợ văn khéo mà thôi” (5/tr.494). Trong ý thức của Thạch Lam vai trò của chủ
thể sáng tạo được đặt ở một vị trí trang trọng, đặc biệt là “cái địa vị quan
trọng của tâm hồn tác giả”. Dường như ông kỳ vọng cao về thiên chức nhà văn,
với tâm hồn, tình cảm của mình cùng “sự rung động thật” với cuộc đời, nghệ sĩ phải
là người “chịu theo tâm hồn mình lại còn bao hàm cả cái can đảm mình dám làm
mình” (5/tr.495), luôn chủ động và có bản lĩnh đi đến
cùng để tìm kiếm và kiến tạo nên một thế giới hiện thực luôn luôn mới mẻ
và hấp dẫn.
2.2.
Lý luận hiện đại ngày nay coi tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng”,
thưởng thức văn học của độc giả thuộc nhiều trình độ khác nhau. TrongTheo
dòng, bàn về Những người đọc tiểu thuyết Thạch Lam xếp
người đọc thành hai hạng: “Hạng độc giả chỉ cốt xem truyện và hạng độc giả chỉ
thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lý giống tâm hồn
mình” (5/ tr.497).
Loại
độc giả thứ nhất: “Họ đọc tiểu thuyết gì cũng được (…) ngốn tiểu thuyết như
người ta ăn cơm lấy no, và khi đọc xong họ không có cảm tưởng gì cả” (5/ tr.497). Đây
là những độc giả mà lý luận hiện đại ngày nay gọi là loại “người đọc có “khẩu
vị” bình dân, chỉ ưa và quen những tác phẩm thuộc dòng văn hóa đại chúng” (3/
tr.167). Họ không “cần gì đến câu văn hay, hay tư tưởng của tác giả: nhiều khi
câu văn hay, tư tưởng sâu sắc của tác giả lại là điều trở ngại trong việc đọc
của họ”(5/ tr.497). Theo Thạch Lam đây là nhóm độc giả làm nảy nở loại văn
chương “chỉ chiều theo ý công chúng để kiếm lời”. Trong bối cảnh xã hội thời
đại của nhà văn, khi thứ tiểu thuyết kiếm tiền và võ hiệp trở thành một “nạn
dịch” (chữ dùng của Thạch Lam), nhằm “mãn nguyện những ưa thích hèn yếu trong
người ta”(5/ tr.498) thì sự phân tích thấu đáo “tầm đón nhận” còn nhiều giới
hạn của người đọc cho thấy ôngý thức rất rõ tác động của người đọc đối với
sáng tác văn học.
Thực tế cho thấy một bộ phận đông đảo người đọc nào đó có thể lái phong trào sáng tác văn học sang những xu hướng khác nhau. Quan điểm này của Thạch Lam đặt ra vấn đề mà ở thời điểm hiện nay vẫn chưa bao giờ cũ đối với người cầm bút: số đo trình độ cảm thụ của đa số người đọc trong cộng đồng buộc nhà văn phải suy nghĩ, cân nhắc về việc đáp ứng nhu cầu của người đọc khi sáng tác.
Thực tế cho thấy một bộ phận đông đảo người đọc nào đó có thể lái phong trào sáng tác văn học sang những xu hướng khác nhau. Quan điểm này của Thạch Lam đặt ra vấn đề mà ở thời điểm hiện nay vẫn chưa bao giờ cũ đối với người cầm bút: số đo trình độ cảm thụ của đa số người đọc trong cộng đồng buộc nhà văn phải suy nghĩ, cân nhắc về việc đáp ứng nhu cầu của người đọc khi sáng tác.
Loại
độc giả thứ hai: “Hạng này là những người không lười trí, họ ưa suy nghĩ, tư
tưởng và tìm tòi. Họ thờ phụng và theo đuổi cái đẹp, cái hoàn toàn. Họ biết
thưởng thức một câu văn hay, một ý tưởng sâu sắc và cảm thấy một cái thú vị vô
song khi sắp bước vào tâm hồn của một nhân vật nào” (5/ tr.499). Đây là nhóm
độc giả mà lý luận hiện đại coi là loại người đọc có sự đào luyện nhất định
trong môi trường văn hóa trí thức, họ có những kiến giải đúng về văn chương.
“Họ cũng đọc tiểu thuyết để giải trí, nhưng cách giải trí thanh nhã và cao quý
đem đến cho họ những điều lợi ích và tâm hồn họ trở nên dồi dào(…). Đọc sách
đối với họ là một cách luyện mình để cho tâm hồn phong phú hơn lên”.
Đối
với Thạch Lam, hạng độc giả thứ hai này là “mực thước đo trình độ văn chương.
Họ có nhiều tức là văn chương phong phú và giá trị. Họ là tri kỷ thân yêu của
các nhà văn chân chính và khiến những tác phẩm xuất sắc không phải mai một
trong quên lãng” (5/ tr.499).
Lý
luận hiện đại cho rằng nhà văn sáng tạo văn bản như là một hệ thống tạo nghĩa
và chỉ khi có người đọc đọc đến thì văn bản mới chuyển hóa thành đối tượng thẩm
mỹ, trở thành ý thức của người đọc. Người đọc trở thành trung tâm tạo nên giá
trị của tác phẩm. Sự tồn tại đích thực của tác phẩm chỉ có được nhờ hai hoạt
động có ý thức từ tác giả và người đọc, điều này có nghĩa là từ văn bản đến tác
phẩm văn học luôn là quá trình tác động hai chiều trong mối quan hệ giao tiếp
giữa nhà văn và bạn đọc, quá trình này luôn tiếp diễn không ngừng bởi năng
lượng phong phú phát ra từ văn bản và ý thức tiếp nhận mạnh mẽ, đa dạng, đa
chiều của độc giả.
Từ
quan niệm của lý luận văn học hiện đại về vấn đề người đọc, nhìn lại quan niệm
của Thạch Lam có thể nhận thấy ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX nhà văn đã
đặt vấn đề quan tâm đến mối quan hệ tác phẩm và độc
giả, đề cao tính chủ động sáng tạo của người đọc - một phương diện mà
ngay cả giai đoạn sau (1945-1975) lý luận ở Việt Nam chưa chú ý quan tâm thỏa
đáng bởi chỉ chú trọng tập trung vào mối quan hệ tác giả - tác phẩm. Đến tận
thời kỳ đổi mới (1986 đến nay) vấn đề người đọc từ điểm nhìn của mỹ học tiếp nhận
mới được nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn để hướng đến khắc phục những giới
hạn của tư duy lý luận trước đây (chỉ xem xét đánh giá giá trị của tác phẩm văn
học chủ yếu từ mối quan hệ giữa tác phẩm văn học với tác giả, quan hệ tác phẩm
với hiện thực, đơn giản hóa ý nghĩa tác phẩm vốn là một cấu trúc mở mang tính
đa nghĩa, coi nhẹ vai trò người đọc với tư cách là một chủ thể thẩm mỹ, một
khâu quan trọng trong quá trình sáng tạo văn học). Như vậy, xét trong tiến
trình hiện đại hóa lý luận văn học ở Việt Nam có thể coi Thạch Lam là người cầm
bút sớm có ý thức nhận thức đúng vai trò của người đọc - họ
chính là người đồng sáng tạo cùng với nhà văn, góp phần quan
trọng nối dài cuộc đời tác phẩm đến vô cùng.
Nhà
phê bình là một loại người đọc đặc biệt, đó là loại độc giả có trình độ chuyên
môn cao, họ thực sự có ý thức can dự vào sự phát triển của đời sống văn học.
Tuy chưa có nhiều ý kiến đi sâu bàn về vấn đề lý luận của phê bình nhưng một số
luận điểm của Thạch Lam nêu lên trong Theo dòngchứng tỏ ông đã rất
trăn trở về một công việc mà cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều vấn đề phải tiếp
tục tìm tòi nghiên cứu để vượt qua những giới hạn và thách thức mà thời đại
cùng sự phát triển của đời sống văn học đặt ra. Thạch Lam khẳng định: “Phê bình
cũng khó như sáng tác. Một nhà phê bình giỏi cũng hiếm như một nhà viết tiểu
thuyết giỏi. Nhà phê bình còn cần đến những đức tính không phải là có nhiều
trong lòng người, nhà phê bình trước hết phải công bình và hiểu được người
khác” (5/tr.487)
Đây
là một quan điểm rất đáng lưu ý, bởi lẽ ở thời đại Thạch Lam cũng có những quan
điểm cho rằng “sáng tác khó, phê bình dễ”(5/tr.487). Và nhìn chung ở ta trước
nay thường quan niệm phê bình chỉ đơn thuần là công việc “ăn theo” sáng tác.
Nhà phê bình đồng thời cũng là người thuật lại ý kiến của nhà văn về sáng tác.
Từ đó phê bình chỉ là “bình tán” các vấn đề xung quanh tác phẩm như hoàn cảnh
sáng tác, hiện tượng phản ánh, nguyên mẫu nhân vật, lên án tư tưởng gì, ca ngợi
người như thế nào, chi tiết nào nhà văn tâm đắc… Mô hình phê bình lấy nhà văn
làm trung tâm bộc lộ rất nhiều hạn chế, nó biến “nhà phê bình thành tiểu đồng
của nhà văn và tự đánh mất vai trò chủ thể của mình trước tác phẩm” (6/
tr.188).
Hiện
nay các nhà lý luận ở Việt Nam thừa nhận phê bình văn học tồn tại như một cơ
chế giám sát đầy hiệu năng của xã hội bên cạnh nhà văn nhằm động viên, khuyến
khích hay cảnh tỉnh, cảnh báo (nếu có sự suy thoái trong bút pháp, trong quan
niệm thẩm mỹ). Phê bình văn học lấy bản thể tác phẩm làm trung tâm, đây thực
chất là hành trình đi tìm ý nghĩa tiềm tại của văn bản văn học. Phê bình đóng
vai trò quan trọng trong việc lý giải, cắt nghĩa tác phẩm văn học. Với ưu thế
của một hoạt động mang tính chuyên nghiệp, sự cắt nghĩa tác phẩm của phê bình
thường hàm chứa những phát hiện mới mẻ, tác động mạnh mẽ đến người đọc, phê
bình bồi dưỡng, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, xây dựng tinh thần
lành mạnh cho xã hội. Phê bình văn học tác động vào tất cả các khâu của quá
trình sáng tác - giao tế văn học. Phê bình là một loại hình hoạt động
tinh thần nằm giữa khoa học và nghệ thuật. Là khoa học, phê bình có hệ
thống tiêu chuẩn đánh giá riêng (tiêu chuẩn về thẩm mỹ, tính tư tưởng, tính
chân thực lịch sử, tính cách tân, tính hoàn thiện), có phương pháp đánh giá
riêng đối với các hiện tượng văn học. Là nghệ thuật, mỗi tác phẩm phê bình mang
đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn. Từ văn bản văn học, mỗi nhà phê bình
sáng tạo nên một văn bản có giá trị độc lập, nhân lên những sáng tạo nghệ
thuật, giúp người thưởng thức phê bình đọc thấy những ý nghĩa dôi thêm của tác
phẩm, và tiếp tục đồng sáng tạo, làm phong phú thêm những giá trị văn học, làm
giàu thêm cho đời sống tinh thần của con người. Phê bình văn học là
một bộ phận hợp thành không thể thiếu được của quá trình văn học. Như vậy quan
điểm cho rằng “phê bình cũng khó như sáng tác” của Thạch Lam lại thêm một lần
nữa chứng tỏ nhà văn xuất sắc của Tự Lực văn đoàn có một tư duy lý luận không
những sắc bén mà còn tinh tế, nhạy cảm. Bên cạnh đó ông còn bàn về
chữ “tâm” của các nhà phê bình: “Nhiệm vụ của nhà phê bình có lẽ không phải là
tìm tòi những tài năng mới. Nhưng trong công việc, nhà phê bình phải lưu ý hơn
đến những tác phẩm đầu tiên của một nhà văn. Phải cúi mình xuống những tác phẩm
có biểu lộ một tâm hồn rung động, một ý chí sốt sắng.
Tác phẩm có thể vụng về, có thể non nớt như tiếng chim mới biết kêu. Nhưng cốt nhất là thấy ở đấy một vẻ sắc riêng, một âm điệu đặc biệt; cái già dặn của nét bút, cách xếp đặt của cuốn truyện rồi về sau sẽ có. Không thể nhầm được, và nhà phê bình cũng không có quyền nhầm, trong đó thể nào cũng có cái gì cho ta đoán biết được tài năng về sau này” (5/tr.488). Thiết nghĩ bài học kinh nghiệm mà Thạch Lam nêu vẫn còn nguyên giá trị thời sự, nó vẫn phát huy một cách hữu ích cho công cuộc hiện đại hóa nền phê bình văn học của dân tộc trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Bởi cho dù có đổi mới thế nào thì cái gốc của văn chương và phê bình văn chương vẫn phải xuất phát từ những nền tảng nhân văn và nhân đạo.
Tác phẩm có thể vụng về, có thể non nớt như tiếng chim mới biết kêu. Nhưng cốt nhất là thấy ở đấy một vẻ sắc riêng, một âm điệu đặc biệt; cái già dặn của nét bút, cách xếp đặt của cuốn truyện rồi về sau sẽ có. Không thể nhầm được, và nhà phê bình cũng không có quyền nhầm, trong đó thể nào cũng có cái gì cho ta đoán biết được tài năng về sau này” (5/tr.488). Thiết nghĩ bài học kinh nghiệm mà Thạch Lam nêu vẫn còn nguyên giá trị thời sự, nó vẫn phát huy một cách hữu ích cho công cuộc hiện đại hóa nền phê bình văn học của dân tộc trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Bởi cho dù có đổi mới thế nào thì cái gốc của văn chương và phê bình văn chương vẫn phải xuất phát từ những nền tảng nhân văn và nhân đạo.
3. Theo
dòng của Thạch Lam xuất hiện trên văn đàn tính đến nay đã hơn 70 năm.
Và quãng thời gian hơn 70 năm qua nền văn học Việt Nam (trong đó có lý luận văn
học) cũng đã có nhiều đổi mới, phát triển qua nhiều giai đoạn. Từ điểm nhìn của
lý luận hiện đại hôm nay, suy ngẫm lại những quan điểm lý luận của Thạch Lam về nhà
văn - chủ thể sáng tác và người đọc - chủ
thể tiếp nhận văn học, có thể khẳng định đây là những nhận
thức sâu sắc,đi trước thời đại, hàm chứa nhiều phát hiện bất ngờ về những vấn
đề cốt yếu nhất của lý luận văn học, điều này đã góp phần không nhỏ
vào việc làm phong phú tư duy lí luận và hiện đại hoá nền văn học nước ta chặng
đường đầu thế kỷ XX. Trong cái nhìn đối sánh với lý luận văn học dân tộc hiện
nay, những quan điểm lý luận của Thạch Lam còn nguyên giá trị bởi “có sức
thuyết phục mạnh mẽ, bởi sự minh triết trong tư duy lý luận – phê bình được
nghiền ngẫm tâm huyết từ những trải nghiệm của một tấm lòng hết mình cho nghề
văn, của một đời văn đã đạt những thành tựu sáng giá” (8/tr.418). Theo
dòng tiếp tục phát huy giá trị học thuật trong dòng chảy của tiến
trình hiện đại hóa lý luận văn học dân tộc đang đứng trước rất nhiều thách thức
của thời đại đặt ra.
Tài liệu tham khảo
1.
Nguyễn Thị Kiều Anh (chủ biên), 2012, Lý luận về thể loại tiểu thuyết
trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội.
2.
Trương Đăng Dung, 2004, Tác phẩm văn
học như là quá trình, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3.
Trịnh Bá Đĩnh, 2011, Phê bình văn học Việt Nam hiện đại, Nxb. Văn
học, Hà Nội.
4.
Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn), 2000, Tự lực văn đoàn trong tiến
trình văn học dân tộc, Nxb. Văn hóa TT, Hà Nội.
5.
Nhiều tác giả, 2000, Văn chương Tự lực văn đoàn, T.3, (Phan Trọng
Thưởng – Nguyễn Cừ giới thiệu), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
6.
Trần Đình Sử, 2000, Lý luận và phê bình văn học, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội.
7.
Trần Đình Sử, 2007, Lý luận và phê bình văn học, T1, Bản chất và đặc
trưng văn học, Nxb. Đại học SP Hà Nội.
8.
Nguyễn Ngọc Thiện, 2005, Phong cách và đời văn, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội.
Cao Hồng




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét