“Vô cảm” hay tiếng chuông lòng thức tỉnh
VÔ
CẢM
Mắt
của mây vần vũ những nẻo hoang
Vầng
trăng khóc- màn đêm nào chia sẻ
Ngõ
cụt vờ như giữa phố không đèn
Cũng
âm thanh thuở nồng vấn vít
Nghe
lạnh đầu môi hóa đá trái tim đời
Nhoẻn
nụ cười mười phân về gượng gạo
Nem
nép tủi hờn quệt nhọ làm vui
Ngày
chân đất ân tình sao nồng ấm
Tuyết
lạnh xứ người như chẳng hề xa
Bữa
cơm lẻ cũng một đôi tìm gắp
Muối
vừng ơi! vị ngọt mấy ai ngờ…
Người
vô cảm hay đời là vô cảm
Vần
xoay quanh còn mất một lẽ thường
Ung
dung ấy bao giờ dừng bến cũ
Gọi
xao lòng hội ngộ giữa thuyền trăng!
Vũ
Thiên Kiều
Nhà
thơ trẻ Vũ Thiên Kiều đã thành công với thể thơ lục bát truyền thống bằng ngôn
ngữ mới lạ, mượt mà âm điệu, đằm sâu ý tưởng. Khi các nhà thơ trẻ thường cách
tân cách điệu để làm mới thơ mình theo lối đi riêng, thì Vũ Thiên Kiều vẫn
thường bám vào cách viết truyền thống bằng ngôn ngữ thuần Việt. Bài thơ “Vô
cảm” của chị theo cách viết đấy. Vẫn tròn trịa câu chữ trong 4 khổ thơ rành rọt
đã để lại không ít đồng cảm trong lòng bạn đọc.
Trái
tim con người vốn dễ xúc cảm, dễ ngân rung giữa mênh mang cuộc sống, giữa cảnh
vật nên thơ của thiên nhiên ban tặng và luôn có nhu cầu giao cảm: “Trái
tim gió lang thang không biên giới/ Mắt của mây vần vũ những nẻo hoang”. Lạ
thay, khi cuộc sống phát triển, mang hơi thở công nghiệp hóa, đô thị hóa thì
những giao cảm của con người với thiên nhiên chừng như thờ ơ mai một: “Vầng
trăng khóc- màn đêm nào chia sẻ/ Ngõ cụt vờ như giữa phố không đèn”. Hai
từ ngõ cụt đặt trong văn cảnh này thật đắt, tác giả không viết ngõ
quê vờ như giữa phố không đèn mà là ngõ cụt. Thể hiện hiện
tượng đương đại đang đối nghịch với điều vốn có. Có lẽ người ta quá chạy theo
đô thị hóa, điện khí hóa nông thôn mà thờ ơ, lạnh nhạt với vầng trăng ngàn đời
tâm giao với ngõ quê đã dệt nên bao ký ức lung linh, bao kỷ niệm ngọt ngào nơi
chốn quê của bao thế hệ. Giờ như quay mặt “vờ như phố không đèn”.
Câu thơ thật điềm tĩnh nhưng không ít xót xa ngậm ngùi.
Lúc
đó thì trái tim thơ lại hoài cổ kiếm tìm. Tác giả tìm về hình tượng thơ ngàn
đời không xưa cũ với dung lượng cảm xúc đậm đặc hơn, cường độ cao hơn với nghệ
thuật nhân hóa “trái tim gió”, “mắt của mây”, “vầng
trăng khóc”, “ngõ cụt vờ” không chỉ bằng thủ pháp mà bằng
cảm xúc chân thành để sẻ chia, gởi gắm nỗi lòng trước ứng xử vô cảm của con
người với thiên nhiên. Những câu thơ ở thế tương phản vừa thảng thốt, vừa pha
chút ngậm ngùi làm lay thức lòng người quá đỗi. Thì ra, trái tim gió, mắt của
mây là trái tim, là đôi mắt của con người tâm cảm luôn giao hòa với thiên nhiên
để gởi gắm bao nội cảm của mình, để vươn tới chân thiện mỹ.
Khổ
thơ thứ nhất, tác giả thể hiện sự trải nghiệm và khám phá chính tâm thức mình,
rồi suy tư trăn trở trước sự vô cảm của con người với cảnh vật thiên nhiên ngàn
đời gần gũi đã tạo nên tâm hồn con người. Ở 2 khổ thơ tiếp theo vẫn ở thế đối
nghịch, thế tương phản, nỗi trăn trở của tác giả càng được dâng cao trước sự
đối nhân xử thế lạc lõng, giả trá, bon chen tìm đến mưu cầu riêng mà vờ vịt tạo
nên hiệu ứng vô cảm như trọn vẹn, dối lừa chính trái tim mình. Để rồi khi quay
về với chiều sâu nhân bản bao day dứt, bao xốn xang lại bùng dâng choáng ngợp:
“Nhoẻn nụ cười mười phân về gương gạo/ Nem nép tủi hờn quệt nhọ làm vui”. Câu
thơ mặc định hình ảnh đầy hình tượng cứ day dứt, rồi miên man trong lòng người
đọc. Thế rồi, đọc qua khổ thơ tiếp theo, ta bừng ngộ nhận ra ân tình nồng ấm
thuở khốn khó mà nguôi vơi bớt nỗi lòng. Bởi không chỉ âm điệu của câu thơ mà
còn cái tình chan hòa chân thật, không tính toán bon chen, không cân đo đong
đếm. Thật đáng trân quý. Đủ để soi chiếu vào hiện tại, đủ để ngấm sự chua chát
của thế thái nhân tình, của thói đời vô cảm: “Ngày chân đất ân tình sao
nồng ấm/ Muối vừng ơi! Vị ngọt mấy ai ngờ…”. Dấu chấm than (!) đi cùng dấu
chấm lửng (…) cứ dóng diết xoáy sâu vào tâm thức người đọc như trải ra, như níu
gọi thuở nồng ấm xa xưa. Như tiếng chuông lòng ngân rung, thức tỉnh lương tri
con người hãy tìm về nhân cách đạo đức vốn có ngàn đời của dân tộc Việt.
Tác
giả đang cùng người đọc suy tư trăn trở trước sự vô cảm của người đời. Rồi
chiêm nghiệm: “Người vô cảm hay đời là vô cảm” câu thơ để ngỏ,
như lời độc thoại, tự vấn cần đến lời giải đáp ở phía người đọc đã được đồng
điệu tìm đến căn nguyên của bệnh vô cảm là do con người hay do đời. Vũ Thiên
Kiều thật khéo dùng từ “là” để “đời là vô cảm” làm
tăng thêm nồng độ xúc cảm. Làm nổi bật giữa cái hiện tượng và bản chất. Từ thao
thức đến thổn thức, cùng sự trải nghiệm và cảm nghiệm, tác giả nhận ra thiện ác
đời nào cũng có. Đấy là điều muôn thuở trong vòng xoay nhân thế. Thiện ác luôn
tồn tại. Nhưng không thể cân bằng. Cái ác, cái vô cảm chỉ là hiện tượng, là
phần tử bao giờ cũng bị người đời tẩy bỏ: “Vần xoay quanh
còn mất một lẽ thường”. Cuối cùng cuộc đời vẫn tuân theo luật nhân
quả. Trái tim nhân ái giao hòa luôn được đồng vọng. Và Vũ Thiên Kiều đã gióng
lên:“Ung dung ấy bao giờ dừng bến cũ/ Gọi xao lòng hội ngộ giữa thuyền
trăng!”.
Bài
thơ thật hay, dễ đi vào lòng người bởi không chỉ tính thời sự mà còn giàu chất triết
luận được mềm hóa bằng ngôn ngữ, âm điệu thơ đã đồng điệu trái tim người đọc.
Tác giả đã chắt lọc và cô đọng đến mức tối giản ngôn từ, nhưng khi diễn giải
chắc tốn không ít giấy mực về hiện tượng vô cảm đang gây bức xúc hiện nay.
Quảng
Ngãi, tháng 4.2013
BÙI
HUYỀN TƯƠNG


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét