Một số lễ hội mùa xuân qua mấy vần ca dao
Ở nước ta, nhất là ở miền Bắc từ Nghệ Tĩnh trở ra, mùa Xuân là mùa của hội hè đình đám. Ca dao ta có câu:
Ở nước ta, nhất là ở miền Bắc từ Nghệ Tĩnh trở ra, mùa Xuân là mùa của hội hè đình đám. Ca dao ta có câu:
Tháng
Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng
Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Thế nhưng, không phải chỉ có “tháng Ba
hội hè” mà hội hè trải dài suốt cả mùa Xuân.
Đây là hội tháng Giêng:
Lễ
Phật quanh năm,
Không
bằng hội Rằm tháng Giêng.
Đây là hội tháng Hai:
Ai
là con cháu Rồng Tiên
Tháng
Hai mở hội Trường Yên thì về . . .
Đây là hội tháng Ba:
Tình
cờ ta lại gặp ta,
Vui
bằng mở hội tháng Ba đền Sòng.
Có những địa phương như vùng “quan họ”
Bắc Ninh còn vạch ra lịch vui Xuân của từng làng để các làng tổ
chức khỏi trùng nhau và dân chúng các vùng lân cận có thể tham gia:
Mồng
bốn là hội Kéo Co,
Mồng
năm hội Ó chẳng cho nhau về.
Mồng
sáu đi hội Bồ Đề,
Mồng
bảy trở về đi hội Đống Cao . . .
Có một số hội Xuân lại được tổ chức vào thượng
tuần tháng Tư:
Ai
ơi, mồng chín tháng Tư,
Không
đi hội Gióng cũng hư một đời!
Hay: Mồng bảy hội Khám,
Mồng
tám hội Dâu,
Mồng
chín đâu đâu
Trở
về hội Gióng.
Tại sao hội hè đình đám lại thường
được tổ chức nhiều nhất là vào mùa Xuân và thứ đến là mùa Thu?
Ngày trước, nước ta là một nước nông nghiệp theo phương pháp canh tác
cổ truyền. Vào ngày mùa, người nông dân phải quần quật suốt ngày
ngoài đồng ruộng. Do đó, họ cần phải có một khoảng thời gian nào
đó để nghỉ ngơi, giải trí, thụ hưởng cái thành quả lao động dù ít
oi của mình. Mùa Xuân chính là mùa lý tưởng nhất. “Hằng năm
họ chỉ có hai dịp rảnh rỗi sau vụ cấy lúa Chiêm vào tháng Chạp và
lúa Mùa vào tháng Bảy. Giêng, Hai và tháng Tám là lúc dân quê được
nghỉ ngơi, lúa lúc này đã cấy xong và những hoa màu phụ cũng đã
trồng, mùa gặt chưa tới và hoa màu phụ cũng chưa dỡ. Nhân dịp này
các làng tổ chức hội hè cho dân chúng mua vui.” (1)
Trong tác phẩm Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, nhà khảo
cứu Đào Duy Anh cũng đưa ra nhận xét:
“Trong làng thường năm có nhiều kỳ
tế lễ để dân làng có dịp “ăn uống” và “vui chơi”. Những cuộc tế 1ễ
lớn nhất là lễ Kỳ phúc về mùa Xuân và mùa Thu để cầu bình yên cho
dân làng, lễ Nhập tịch hay vào đám vào khoảng tháng Giêng, tháng Hai,
khi thường thì chiếu lệ tế lễ dăm bảy ngày, năm nào hòa cốc phong
đăng dân gian làm ăn thịnh vượng hay nhân lễ rước sắc thần, hay nhân lễ
khánh thành đình mới thì mở Đại hội, bày những cuộc vui chơi hát xướng
đến nửa tháng hay cả tháng.” (2)
Các lễ hội mùa Xuân ở nước ta có từ
bao giờ? Thật khó mà trả lời cho xác đáng. Có một điều ta có thể
xác nhận là ngay từ thời dân ta còn sống dưới chế độ bộ lạc quây
quần ở vùng đất châu thổ sông Hồng ngày nay, tức thời đại Hùng
Vương, thì đã manh nha hình thức của lễ hội mùa Xuân. Trong tác phẩm
Việt Nam Cổ Văn Học Sử, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã viết:
“Vào những ngày hội hoặc ngày tế
thần, thường thường là mùa Xuân xa ngày cấy hái, trai gái các bộ
lạc thôn ấp thường tụ tập lại một nơi, đặt ra lời ví hát ghẹo nhau,
trong khi gảy đờn, thổi sáo, đánh trống, múa nhảy hay là bày các
trò vui.” (3)
Thường thường lễ hội mùa Xuân
được tổ chức ở chùa hay đình làng.
Chùa là nơi thờ Phật. Đình, miếu là
nơi thờ Thần.
“Miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là
nơi thờ vọng, và để làm nơi công sở cho dân chúng hội họp.” (4)
“Làng nào cũng có một cái nhà chung (tức
là Đình Làng – ĐĐN chú thích) vừa là nơi thờ Thần, vừa là
nơi tụ hội của dân. Đối với dân làng, thần Thành Hoàng là biểu hiệu
của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả
làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô
hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ
thống chặt chịa.” (5)
Đình miếu là nơi thờ thần Thành hoàng.
Mỗi làng thờ một vị thần Thành hoàng, có làng thờ hai hoặc ba vị.
Các vị Thành hoàng có thể là những nhân vật huyền thoại của dân
tộc như Phù Đổng Thiên Vương, Chữ Đồng Tử, Liễu Hạnh Công chúa…hay
các nhân vật lịch sử có công với dân tộc như Hai Bà Trưng, Đinh Tiên
Hoàng, Trần Hưng Đạo…Có làng thờ Thành hoàng là người đã có công
xây dựng ra làng như Hoàng Cao Khải được thờ ở Thái Hà ấp, Nguyễn
Công Trứ được làm Thành Hoàng ở nhiều đình làng thuộc hai huyện Tiền
Hải và Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Lại có nhiều làng, vì niềm tin đặc
biệt vào những người thác sinh vào ngày giờ được xem là linh thiêng
cũng được dân làng thờ làm thần Thành hoàng, lắm khi các vị thần
này là những tà thần ăn trộm, thần tà dâm v.v. . .
Trong các ngày lễ hội, ngoài các chính
lễ được thực hiện một cách trang trọng như lễ mộc dục (tắm cho
tượng thần thờ trong đình) các hình thức tế lễ…còn có một
nghi thức đặc biệt gọi là “hèm”, người ta thường bày một trò tiêu
biểu để nhắc lại tâm tính, sự nghiệp hoặc hành vi của vị thần làng
thờ. Như sau đây chúng ta sẽ thấy trong sự tích “đánh giặc Ân” của
Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương, sự tích “cờ lau tập trận” của
Đinh Bộ Lĩnh tức vua Đinh Tiên Hoàng, hay trong lệ “rã đám” của làng
La Khê ở Hà Đông.
Cây có cội, nước có nguồn, người có
tổ tông. Dân ta không bao giờ quên nguồn gốc tổ tông của mình. Thế nên
đã từ ngàn xưa, dân ta không bao giờ quên được ngày giỗ Tổ Hùng Vương:
Ai
về Phú Thọ cùng ta,
Vui
ngày Giỗ Tổ tháng Ba mồng mười.
Dù
ai đi ngược về xuôi,
Nhớ
về Giỗ Tổ mồng mười tháng Ba.
Và có lẽ cũng đã tự ngàn xưa, ngày
Giỗ Tổ Hùng Vương đã được xem là ngày Quốc lễ.
Hằng năm, tại Đền các vua Hùng trên núi
Nghĩa Lĩnh thuộc phủ Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, dân làng Cổ Tích vẫn
theo cổ lệ tổ chức hội Giỗ Tổ từ ngày đầu tháng Ba mãi đến ngày
chính lễ là ngày 10 tháng Ba mới rã đám. Dân bốn phương trong nước
lũ lượt đổ về đây dự Hội để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn các vị
Vua Hùng đã dày công khai sáng Tổ Quốc Việt Nam. Vào ngày chính lễ
mồng mười tháng Ba có Quốc tế do đại diện triều đình cử về làm
chủ tế. Về sau chính quan đầu tỉnh Phú Thọ thay mặt triều đình đứng
chủ tế. Trong thời gian từ ngày khai hội đến ngày mãn hội, có nhiều
trò chơi được tổ chức cho dân bốn phương về thưởng thức như trò đu
tiên, leo giây, thả diều, đánh còn v.v . . .
Đu
tiên mới dựng năm nay
Cô
nào hay hát kỳ này hát lên.
Tháng
Ba nô nức hội Đền
Nhớ
ngày Giỗ Tổ bốn nghìn năm nay.
Dạo
xem phong cảnh trời mây.
Lô
Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về.
Khắp
nơi con cháu ba kỳ.
Kẻ
đi cầu phúc, người đi cầu tài.
Sở
cầu như ý ai ai.
Xin
rằng nhớ lấy mồng mười tháng Ba.
Ngày Giỗ Tổ cũng còn là dịp hẹn hò
của bà con gần xa gặp nhau để nhắc nhở nhau giữ gìn nước Tổ, cầu
chúc cho nhau những lời tốt đẹp mặn nồng:
Đến
dây sum họp vui cười,
Trước
là lễ Tổ viếng nơi mộ phần.
Sau
là tài tử giai nhân
Hàn
huyên kể nỗi kẻ gần người xa.
Gần
xa ta cũng một nhà.
Cũng
dòng Hồng Lạc, cũng là viêm bang.
Chúc
rằng: phú quí thọ khang.
Tổ
cho phúc trạch bình an muôn nhà
Rời đất Tổ Phú Thọ, chúng ta hãy cùng
nhau về thăm vùng đất phát tích vị anh hùng huyền thoại của Dân tộc:
Đức Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương:
Ai
ơi, mồng chín tháng Tư,
Không
đi hội Gióng cũng hư một đời.
Làng Gióng tức làng Phù Đổng thuộc
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hội đền Phù Đổng Thiên Vương tục gọi là
hội Gióng được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng Tư với sự tham dự của
dân 4 làng thuộc tổng Phù Đổng: Phù Đổng, Phù Dực, Đồng Viên và
Đồng Xuyên. Hội tổ chức cuộc rước lịch sử với những hình ảnh thật
rực rỡ diễn lại sự tích “đánh giặc Ân” của cậu bé làng Gióng mà
về sau được các vua phong tặng là Phù Đổng Thiên Vương.
Trước ngày hội Gióng, các địa phương
kế cận đã có hội Khám và hội Dâu :
Mồng
bảy hội Khám,
Mồng
tám hội Dâu,
Mồng
chín đâu đâu
Thì
về hội Gióng.
Hay: Râm râm hội
Khám,
U ám hội Dâu,
Vỡ
đầu hội Gióng.
Lại
có câu :
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Khám tức làng Vân Khám xứ Kinh Bắc.
Dâu tức làng Dâu nay là xã Thanh Khương,
huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Thiên Ứng Tự nằm trên đất làng Dâu
nên dân gian quen gọi là chùa Dâu. Chùa Dâu nổi tiếng với bốn pho
tượng gọi là tượng Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp
Điện. Chùa thờ Phật mẫu Man Nương, một nhân vật huyền thoại của Phật
Giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, dưới đời Sĩ Nhiếp
làm Thái thú đất Giao Chỉ (187-226). Hội Dâu được tổ chức mỗi năm hai
lần : một lần vào ngày 17 tháng Giêng tương truyền là ngày sinh của
Man Nương với tục thi làm bánh dầy thật hấp dẫn. Ngày hội chính
thức được tổ chức vào ngày Phật Đản (cũ) tức là ngày mồng tám
tháng Tư với đám rước tượng Tứ Pháp thật linh đình, ngoạn mục.
Theo kinh nghiệm của dân chúng địa
phương, vào những ngày đầu tháng Tư, bầu trời thường có mây đen vần
vũ và sau đó là những cơn mưa đầu mùa Hạ, do đó mới có câu “râm
râm hội Khám, u ám hội Dâu”. Hơn nữa, như trong tên gọi Pháp Vân,
Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (mây, mưa, sấm, chớp) đã cho ta thấy hệ
thống chùa Tứ Pháp trong giai đoạn hình thành đã nói lên một nhu cầu
thiết yếu củasinh hoạt nông nghiệp: Mưa, và vì vậy, một số trò diễn
trong các lễ hội mùa Xuân của hệ thống Tứ Pháp thường mang hình
thức “rước nước cầu mưa” :
Ba
bà trẩy hội chùa Un,
Mưa gió ùn ùn , thiên hạ lại dễ làm ăn.
Tục lệ rước tượng Tứ Pháp với những
điệu múa dân gian đầy màu sắc ngoạn mục vào ngày mồng 8 tháng Tư
luôn luôn là một hình ảnh đầy sức quyến ru:
Dù
ai buôn bán đâu đâu
Hễ
trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù
ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ
ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Hội Gióng là nơi qui tụ nhiều khách
thập phương đến để xem diễn lại sự tích “Thánh Gióng đánh giặc Ân”
và để tưởng nhớ lại công ơn của vị anh hùng Dân Tộc. Trẻ con trong
làng và quanh vùng cũng bắt chước “diễn trận” nên mới sinh ra cái
cảnh “vỡ đầu hội Gióng”.
Lại có câu:
Mồng
bảy hội Khám,
Mồng
tám hội Dâu,
Mồng
mười hội Bưởi không đâu vui bằng.
Làng
Bưởi là tên Nôm của làng Đại Bái, nay thuộc huyện Gia Lương, tỉnh Hà
Bắc. Làng này xưa nổi tiếng về nghề gò đồng, thờ ông Nguyễn Công
Truyền làm tổ sư, gọi là Đại Bái tiên sư. Làng này có tục lệ tế
Tiên sư thật đặc biệt, đó là lễ thắp hương của những người đồng niên
canh. “Tất cả dân làng và những người làng đã đi cư ngụ nơi
khác, nếu có điều kiện về lại quê hương đều theo một quy ước chung:
cứ đến tuổi 49 là tuổi ra lềnh, người nào cũng có nhiệm vụ thắp
hương hàng ngày ở đền thờ Tổ. Lần lượt năm nay số người đồng hương
đến lễ, năm sau sẽ là tốp người kế tiếp vào tuổi ấy, ra thắp hương
từ sáng sớm. Người ở xa không về được, có thể gửi hương về nhờ bạn
cùng lứa tuổi mình thắp hộ.” (6)
Rời hội Bưởi của xứ Hà Bắc, chúng ta
hãy về Hà Nam tham dự ngày hội tưởng nhớ công ơn của Triệu Quang
Phục tức Triệu Việt Vương (549-571) người đã có công lãnh đạo dân ta
kháng chiến chống lại tướng nhà Lương của Trung Hoa là Trần Bá Tiên,
một tên Thái thú tàn ác đang cai trị đất Giao Châu:
Làng
Đọ bơi trải,
Làng
Nội lãi lèn,
Làng
Chiền chạy ngựa.
Ba làng này thuộc xã Chung Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam. Trên bờ sông Long Xuyên chảy qua ba làng có đền thờ Dạ Trạch
Vương Triệu Quang Phục. Hằng năm vào những ngày đầu tháng Giêng, ba
làng này mở hội Xuân để tưởng nhớ Triệu Việt Vương. Dân làng Đọ tổ
chức bơi thuyền trải, một loại thuyền nhỏ và dài, còn gọi là
thuyền ngo. Dân làng Nội thi hát “lãi lèn”, một điệu dân ca cổ
của dân huyện Lý Nhân. Dân làng Chiền có tục thi múa ngựa giấy.
Nước ta có nhiều sông ngòi – sông thiên
nhiên và sông đào. Do đó, tục đua thuyền vào các ngày lễ hội thường
được nhiều làng thực hiện. Thuyền đua có hai hình thức : hoặc thuyền
trải hoặc thuyền rồng – tức loại thuyền có chạm đầu rồng ở đầu
thuyền hay cả hình rồng suốt lườn thuyền :
Cầu
Quan vui lắm ai ơi,
Trên
thì chợ họp, dưới bơi thuyền rồng.
Cầu Quan xưa là huyện lị của huyện Nông Cống tỉnh
Thanh Hóa. Nơi đây có chợ Thượng họp ngay trên bờ một con sông đào từ
thời nhà Lê. Xưa kia, hằng năm đến đầu mùa Xuân, Cầu Quan có hội đua
thuyền rồng cho trai tráng trong làng thi tài. Dân chúng kéo về chợ
Thượng vào ngày đầu Xuân vừa mở hàng phiên chợ Tết, vừa được xem bơi
thuyền rồng.
Hoặc như :
Quyển
Sơn vui thú nhất đời,
Dốc
lòng trên giặm, dưới bơi ta về.
Làng Quyển Sơn nằm trên bờ sông Đáy thuộc huyện
Kim Bảng, tình Hà Nam là nơi có nhiều thắng cảnh kỳ thú. Hàng năm
làng tổ chức hội Xuân vào tháng Giêng với tục thi hát giặm – một
thể điệu dân ca miền Bắc và bắc Trung Phần, và thi bơi trải.
Làng Đạo Chân tức Kẻ Dầu tỉnh Bắc Ninh
cũng có tục đua thuyền :
Kẻ
Dầu có quán Đình Thanh,
Kẻ
Hạc ta có ba đình, ba voi.
Mười
tám cất thuyền xuống bơi,
Mười
chín giã bánh, hai mươi rước Thần.
Rước Thần tức rước tượng thần Thành
hoàng của làng.
Rời xứ Kinh Bắc đa tình, chúng ta hãy về thăm Ninh
Bình, nơi dấy nghiệp của vị Vua đầu tiên của nước Việt Nam độc lập:
Đinh Tiên Hoàng.
Ai
là con cháu Rồng Tiên,
Tháng
Hai mở hội Trường Yên thì về.
Về
thăm đất cũ Đinh Lê,
Non
xanh, nước biếc bốn bề như xưa.
Làng Trường Yên thuộc huyện Gia Viễn,
tỉnh Ninh Bình là nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Hằng năm làng
mở hội Xuân từ ngày 15 đến ngày 20 tháng Hai. Trong những ngày hội
có nhiều trò vui chơi như thi thơ, hát chèo, chọi gà, bơi thuyền và
đặc biệt nhất là diễn lại sự tích “cờ lau tập trận” của Đinh Bộ
Lĩnh thuở hàn vi. Một số trẻ mục đồng được làng lựa chọn khoanh tay
làm kiệu rước một trẻ mục đồng khác đóng vai Đinh Bộ Lĩnh. Trong
cuộc diễn, họ cùng hát lại bài ca tương truyền là đã có từ thời
Đinh Bộ Lĩnh còn chăn trâu và tổ chức tập trận bằng cờ lau:
Cỏ
cây ấy, nước non này,
Nước
non quanh quất, cỏ cây xanh rì.
Rừng
hoang, cỏ rậm để chi,
Phen
này ta quyết dọn đi cho rồi.
Này
này chúng bạn ta ơi!
Ở trên là một số lễ hội mùa Xuân tiêu biểu nói
lên lòng tín mộ và tri ân các bậc anh hùng liệt nữ đã dày công xây
dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam thân yêu qua suốt dọc trường kỳ
lịch sử của Dân Tộc. Có thể nói từ thời Quốc Tổ Hùng Vương qua
thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bố Cái Đại Vương . . . thời kỳ Độc Lập
với Ngộ Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung . . . đến
thời kỳ kháng Pháp với Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Phan Bội
Châu . . . hầu như không có một vị anh hùng Dân Tộc nào lại không được
dân ta sùng bái, hương khói phụng thờ.
“Việc thờ cúng các danh nhân anh hùng
chẳng những do lòng biết ơn các Ngài mà còn do thành tâm cầu xin các
Ngài phù giúp dân làng họăc tiếp tục góp công bảo vệ đất
nước.” (7)
Trong hàng các nhân vật huyền thoại
được dân ta thờ phụng như Phù Đổng Thiên Vương, Chữ Đồng Tử, Tản Viên
Sơn Thần thì Liễu Hạnh Công Chúa “tuy phải sinh sau ba vị kia cả
ngàn năm, Thánh mẫu Liễu Hạnh lại được sùng kính tôn thờ như tín
ngưỡng dân gian lan rộng khắp nơi, từ Phủ Giầy Nam Định đến chù Thiên
Minh Lạng Sơn, vào đền Sòng Thanh Hóa, ra Tây Hồ Thăng Long, vào Sóc
Hương Nghệ An đâu đâu cũng hiển linh thiêng liêng.” (8)
Đã có nhiều câu ca dao ghi lại ngày hội
Thánh mẫu Liễu Hạnh:
Tháng
Tám giỗ Cha,
Tháng
Ba giỗ Mẹ.
Hay: Nhất hội
Hương Tích,
Nhì
hội Phủ Giầy.
Giỗ Cha tức giỗ Đức Thánh Trần. Đức Thánh Trần
là tên gọi cung kính của dân gian đối với Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn, vị anh hùng Dân Tộc đã ba lần lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống
cuộc xâm lăng của giặc Nguyên dưới thời nhà Trần vào thế kỷ
thứ 13.
Đền Thánh mẫu Liễu Hạnh tục gọi là
đền Phủ Giầy toạ lạc tại xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Hằng năm đền mở hội từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng Ba mới rã
đám.
Hội Phủ Giày còn gọi là ngày hội
Thánh Vân Hương thu hút hàng trăm ngàn người ở khắp các tỉnh miền
trung du Bắc Việt và bắc Trung Việt. Đây được xem là ngày Hội Xuân
lớn nhất đất Bắc và thời trước được xem là ngày quốc lễ. Vào ngày
khai Hội, triều đình cử một vị quan Khâm Sai Đại Thần hoặc là quan
Tổng Đốc Nam Định đứng làm chủ tế. Trong suốt thời gian lễ hội có
nhiều trò vui chơi như ca hát, kéo chữ, đánh cờ . . . đặc biệt nhất
là các cuộc tế lễ rất linh đình thu hút khá đông các “đồng cô,
bóng cậu”. Tưng bừng và hấp dẫn nhất, đó là đám rước Thánh mẫu
từ đền Phủ Giầy đến xã Phù Chính ở chân núi Gôi vào ngày mồng 6
tháng Ba. Đây là một đám rước đầy màu sắc và hương vị : màu sắc
của cờ xì, áo quần, hương vị của các loại hoa quả và hương đèn của
một rừng người kéo dài hàng năm bảy cây số ngàn.
Ở Thanh Hóa có đền Sòng thờ Thánh mẫu
Liễu Hạnh cũng là nơi được dân chúng đến chiêm bái rất đông, nhất là
vào ngày húy kị mồng 8 tháng Ba của Đức Thánh Mẫu. Đền Sòng cũng
tổ chức những trò vui chơi như ở đền Phủ Giầy. Phần lớn đệ tử của
Mẫu Liễu Hạnh đến đền Sòng để cầu trừ tà ma và tật bệnh :
Tình cờ ta lại gặp ta
Vui
bằng mở hội tháng ba đền Sòng
Đạo Phật du nhập vào nước ta ngay từ những thế kỷ đầu của thiên niên
kỷ thứ nhất. Rồi từ thời kỳ nước nhà giành được Độc Lập (939),
nhất là vào đời nhà Lý (1010-1225) và nhà Trần (1225-1400), đạo Phật
đã giữ một địa vị quan trọng trong đời sống tâm linh và thế tục của
dân tộc ta. Do đó, tinh thần Phật Giáo đã thấm nhuần vào tâm hồn dân
tộc một cách sâu sắc. Có thể nói trong thời kỳ nầy, và ngay cả
nhiều thế kỷ về sau, người Việt Nam nào cũng có thể tự xem mình là
con Phật. Hầu như làng nào cũng có một ngôi chùa, chí ít cũng là
một ngôi thảo am để thờ Phật, làm nơi lui tới chiêm bái của thiện nam
tín nữ. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Khi đến lứa tuổi
bốn, năm mươi trở lên, các bà thường đến chùa vào ngày mộng Một,
ngày Rằm để nghe câu kinh, tiếng kệ. “Tục ta tin rằng trong ngày
Rằm tháng Giêng, Đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng
thành của các tín đồ Phật Giáo. Trong dịp nầy, chùa nào cũng đông
người đến chiêm bái.” (9)
Thế nên trong dân gian đã có câu :
Lễ
Phật quanh năm,
Đất Bắc là nơi có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng, quanh năm không lúc
nào vắng hương khói. Đặc biệt là vào những ngày lễ hội mùa Xuân,
khách thập phương qui tụ về chùa càng đông, hoặc để dâng hương lễ
Phật, hoặc để nghe các sư giảng Pháp, hoặc đến chùa để ngoạn cảnh
và thưởng thức các thú vui trong các dịp hội Xuân.
Ngôi chùa nổi tiếng vì phong cảnh đẹp bậc nhất đất Bắc đó là chùa
Hương :
Bối
Khê, Tiên Lữ, Chùa Thầy
Đẹp thì tuyệt đẹp chưa tày chùa Hương.
Tiên Lữ còn gọi là chùa Trăm Gian ở tỉnh Sơn Tây.
Chùa Thầy nằm trên núi Sài Sơn cũng thuộc tỉnh Sơn Tây. Chùa Hương
tức chùa Hương Tích, dân địa phương vẫn gọi bằng cái tên nôm na quen
thuộc là chùa Trong để đối với chùa Ngoài chức chùa Thiên Trù nằm
ở đầu lối vào cửa động. Chùa Hương Tích nằm trong một cái động
thạch nhũ cùng tên được mệnh danh là “Nam Thiên Đệ Nhất Động” được
khắc ngay lối vào cửa động với nét chữ sắc sảo, bay bướm của ông
Chúa đa tình Trịnh Sâm tức Tĩnh Đô Vương (1767-1782).
“Trong ngôn ngữ thường dùng, chùa Hương gần như đồng nghĩa với toàn
bộ cảnh đẹp Hương Sơn. Nói “đi chùa Hương” tức là nói “vào thăm cảnh
Hương Sơn nói chung” chứ không riêng gì động Hương Tích.” (10)
Quả vậy, chùa Hương là điểm chính của một tập hợp nhiều thắng cảnh
mang di tích Phật Giáo của vùng núi non Hương Sơn. Từ chùa Ngoài
(Thiên Trù) vào đến chùa Trong (Hương Tích) khách hành hương ngoạn
cảnh lần lượt viếng thăm các thắng cảnh ngoạn mục khác : đó là
chùa Tiên nằm trên núi Tiên, chùa Giải Oan với suối nước trong thiên
nhiên tuyệt vời, rồi am Phật Tích, động Tuyết Quỳnh, đến đền Trần
Song tức cửa Võng thờ Bà Chúa Thượng Ngàn.
Chùa Hương nằm trong địa phận tỉnh Hà Đông. Lễ Hội chính thức là
vào ngày Rằm tháng Hai, nhưng theo tục lệ, ngay từ ngày 6 tháng Giêng
người ta đã làm lễ mở cửa rừng cho dân chúng vào làm ăn và khách
thập phương ngoạn cảnh chùa vào những ngày đầu năm.
Hội Chùa Hương thu hút khá đông khách thập
phương trước là để lễ Phật, sau là để ngoạn cảnh.
Ngày Xuân con én xôn xao
Nam thanh, nữ tú ra vào chùa Hương
Chim đưa lối, vượn đưa đường
Nam Mô Di Phật bốn phương chùa
nầy!
Còn khách đa tình
tìm đến nơi nước non kỳ thú nầy để giải tỏa tâm tình :
Ai đi trẩy hội chùa Hương
Làm
ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
Mơ chua, sắng ngọt biết còn thương chăng?
Hội
chùa Hương quyến rũ lòng người nhờ phong cảnh thiên nhiên kỳ thú thì
hội chùa Thầy cũng làm say đắm lòng người bởi phong cảnh thiên nhiên
tuyệt mỹ không kém :
Nhớ ngày mồng bảy tháng Ba,
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.
Chùa Thầy tức Thiên Phúc Tự nằm trên núi Thầy tức Sài Sơn
thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Chùa Thầy, tên gọi của dân gian địa
phương là chùa Cả – là ngôi chùa chính trong vùng có nhiều di tích
kiến trúc Phật Giáo nổi tiếng, gồm có chùa Thầy tức chùa Cả ,
chùa Cao, chùa Một Mái hay chùa Bụt Mọc, hang Thánh Hóa, hang Cắc Cớ
. . .
Hàng năm chùa Thầy tổ chức hội Xuân từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7
tháng Ba. Ngày mồng 7 tháng Ba được xem là ngày Thiền Sư Từ Đạo
Hạnh sau khi tu hành đắc đạo đã “hóa” trong một hang động mà về sau
dân gian đã gọi là hang Thánh Hóa.
Vào ngày khai hội, một đàn tràng được dựng lên trước sân chùa Thầy.
Các nhà Sư trình diễn điệu “múa lượn” nhịp nhàng theo dàn nhạc đệm
và tiếng chuông, tiếng mõ tụng kinh.
Sau thời lễ Phật khai hội là những trò vui Xuân. Khách thập phương
tạo nên một dòng người đầy sắc và hương đi từ chùa Cả, qua chùa Cao
. . . đến hang Thánh Hóa, hang Cắc Cớ, động Gió Lùa rồi lại quay về
chùa Cả để xem trò “múa rối nước” – một nghệ thuật dân gian độc
đáo. Tương truyền Từ Đạo Hạnh là Tổ sư của trò “múa rối nước”
nầy.
Hội Láng được tổ chức ở ngôi chùa làng Láng nằm ở phía nam kinh
thành Thăng Long. Chùa Láng cũng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và cũng
khai hội vào ngày mồng 7 tháng Ba. Điểm đặc biệt của hội Láng là
diễn lại sự tích của Thiền sư Từ Đạo Hạnh và Pháp sư Đại Điên.
Tương truyền Pháp sư Đại Điên dùng bùa phép đánh chết Từ Vinh là thân
phụ của Từ Đạo Hạnh. Để trả mối phụ thù, Từ Đạo Hạnh cũng đã
luyện tập bùa phép và cuối cùng đã triệt hạ được Pháp sư Đại Điên.
Do sự tích nầy nên vào ngày Hội, dân làng Láng rước kiệu Từ Đạo
Hạnh đi ngang qua đình làng Thụy Hương là nơi thờ Pháp sư Đại Điên,
đám rước hướng ngọn cờ vào đền Đại Điên, đốt pháo thăng thiên giả
bộ gây sự để diễn lại sự tích xung đột thuở sinh thời giữa hai ông.
Cũng bởi chùa Thầy khá nổi tiếng, nên những chùa quanh vùng cũng
muốn tạo một sự so sánh để được tiếng thơm lây:
Nhất vui là hội chùa Thầy
Vui thì vui vậy chẳng tày chùa Ngo
Chùa Ngo khánh đá chuông đồng
Muốn chơi thì trả của chồng mà chơi.
Nhất
vui là hội chùa Thầy
Vui thì vui vậy sao tày đôi ta!
Lại có câu :
Chẳng
vui cung hội chùa Thầy
Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài!
Xứ Đoài là tên gọi nôm na của tỉnh Sơn Tây ngày xưa. Hồ Tây nằm trong
kinh thành Thăng Long, nhưng bờ phía tây của hồ này lại thuộc địa
phận tỉnh Sơn Tây ngày xưa.
Động chùa Thầy có hang Cắc Cớ thật nổi tiếng và hấp dẫn :
Động
chùa Thầy có hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ thì nhớ chùa Thầy
Lại có câu:
Gái
chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy
Hay:
Mồng bảy tháng Ba
Vui thay Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy
Gái không chồng nhớ ngày mà đi!
Đã đi hội chùa Thầy phải nhớ đời hang Cắc Cớ – dân địa phương còn
gọi là hang Thần. Mà cắc cớ thật! Bởi lẽ, muốn vào thăm hang Cắc
Cớ, khách phải men theo con đường độc đạo sát vách hang mà đi, vô ý
sẩy chân là sa xuống vực sâu. Kẻ xuôi, người ngược, muốn qua mặt nhau
phải ôm lấy nhau để khỏi phải sẩy chân xuống hố! “Trai chưa vợ
nhớ hội cchùa Thầy” và “Gái không chồng nhớ ngày mà đi”
là vì vậy đó !
Cũng thuộc tỉnh Sơn Tây còn có một ngôi chùa nữa cũng thật nổi
tiếng, đó là chùa Tây Phương :
Ấy
ngày mồng sáu tháng Ba
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây !
Chùa Tây tức chùa Tây
Phương, tên chữ là Sùng Phước Tự, nằm trên núi Tây Phương thuộc
huyện Thạch Thất. Đây là ngôi chùa cổ khá nổi tiếng với pho tượng
Tuyết Sơn và 77 pho tượng lớn nhỏ khác được điêu khắc bằng gỗ mít.
Chùa có lối kiến trúc thật đặc biệt với ba dãy nhà có mái hai tầng.
Chùa mở hội vào ngày mồng 6 tháng Ba thu hút đông đảo khách thập
phương đến lễ Phật và chiêm bái các pho tượng quý hiếm.
Ở Thái Bình cũng có một ngôi cổ tự nổi tiếng không kém. Đó là
chùa Keo, tên chữ là Thần Quang Tự, tọa lạc tại làng Giao Thủy, tục
gọi là làng Keo. Chùa Keo được quốc sư Dương Không Lộ (1016-1094) người
làng Giao Thủy cho xây dựng vào năm 1061 dưới thời vua Lý Thánh Tông
(1054-1072). Chùa Keo tổ chức một năm hai lần hội : Hội Xuân tổ chức
vào ngày mồng 4 Tết với các lễ nghi và trò chơi mang đặc tính nông
nghiệp như thi thổi cơm, thi bắt vịt, thi ném pháo . . .
Hội Thu được xem là hội chính tổ chức từ ngày 13 đến ngày Rằm
tháng Chín. Đây là một ngày hội Chùa thật tưng bừng với nhiều nghi
thức trọng thể từ lễ dựng phướn, lễ tắm tượng, lễ rước tượng Tổ
Dương Không Lộ đến cuộc thi bơi thuyền rồng trên sông Trà Lĩnh. Thế nên
dân gian đã truyền tụng câu ca dao :
Cho
dù cha đánh, mẹ treo
Cũng không bỏ hội chùa Keo hôm rằm!
Ở Hà Nôi có chùa Liên Trì, tục gọi là chùa Quan Thượng do Tổng đốc
Hà Ninh (Hà Nội, Ninh Bình) Nguyễn Đăng Giai, thường gọi là quan
Thượng Giai, cho xây vào năm 1846. Chùa xây cạnh Hồ Tây, trong chùa có
đào 9 cái giếng nên còn gọi là chùa Cửu Tỉnh. Vào những ngày đầu
Xuân, dân chúng Hà Thành lũ lượt kéo nhau về chùa để lễ Phật. Rất
tiếc là chùa đã bị người Pháp cho triệt hạ để lấy đất xây phủ
Thống Sứ. Ngày nay chỉ còn lại ngọn tháp gọi là tháp Liên Trì :
Gần xa nao nức tưng bừng
Vào chùa Quan Thượng xem bằng động tiên.
Lầu chuông, gác tía đôi bên,
Trông ra chợ Mới, Tràng Tiền kinh đô.
Khen ai khéo họa địa đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.
Phong quang cảnh trí trăm đường,
Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng . . .
Ở Bắc Ninh, các hội hát “quan họ” thường gắn liền với các sinh hoạt
của chùa chiền, tức Hội Chùa. Bắt đầu từ ngày mồng 4 Tết, các
làng lần lượt kế tiếp nhau mở hội Xuân. Trong 2 tháng Giêng và Hai,
có nơi sang tháng Ba, các làng phân bố các ngày hội Xuân sao cho không
trùng nhau để dân chúng có dịp tham gia nhiều hội của nhiều làng
khác nhau :
Mồng bốn là hội Kéo Co
Mồng Nam hội Ó chẳng cho nhau về.
Mồng sáu đi hội Bồ Đề,
Mồng bảy trở về đi hội Đống Cao . . .
Làng Hữu Chấp huyện Võ Giàng và làng Tích Sơn huyện Tam Dương đều
mở hội vào ngày mồng bốn Tết với tục nam nữ “kéo co”.
Làng Ó tức làng Vân Ổ huyện Võ Giàng.
Ở Sơn Tây các hội “quan họ” cũng được phân bố như ở Bắc Ninh :
Mười
một thì hội Hương Nha
Mười hai Gia Dụ, mười ba hội Hiền . . .
Hát “quan họ” đối với dân chúng miền Bắc quả có một sức quyến rũ
kỳ lạ. Ta hãy nghe một cô gái Bắc Ninh mô tả niềm say mê hát “quan
họ” như thế nào :
Mồng năm hội Ó,
Quan họ dồn về.
Hội vui lắm lắm,
Chưa kịp đi tắm,
Chưa kịp chải đầu.
Trầu chưa kịp têm,
Cau chưa kịp bổ.
Miếng lành, miếng sổ,
Miếng lại quên vôi.
Người có yêu tôi,
Thì người cầm lấy.
Trong các hội “quan họ” Bắc Ninh, tuy không phải là “hội Cả” nhưng hội
Lim lại rất nổi tiếng :
Hôm nay là buổi hội Lim,
Nhớ em nên phải đi tìm em đây.
Nhất niên nhất lệ một ngày,
Đôi ta tỏ nỗi niềm tây tự tình!
Hội Lim được tổ chức trên đồi Lim, tức Hồng Vân Sơn, nằm trên địa
phận 3 xã : Duệ Đông, Lũng Sơn và Lũng Giang, tổng Nội Duệ, huyện
Tiên Du. Trên núi có chùa gọi là Hồng Vân Tự với quả đại hồng chung
đúc từ đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) và lăng ngài
Hiếu Trung Hầu, một vị hoạn quan dưới thời Lê Cảnh Hưng. Vì không con
cái, Ngài hiến dâng tài sản để xây đình cho mấy xã thuộc tổng Nội
Duệ. Thế nên, để nhớ công ơn Ngài, hàng năm đến ngày 13 tháng Giêng,
dân Nội Duệ mở hội Xuân tại lăng của Ngài. Ngày hội nầy được gọi
là ngày Hội Lim. Ngoài các trò chơi Xuân, hội nổi tiếng với tục hát
“quan họ”. Hội Lim đã thu hút khá đông khách thập phương về tham dự,
đặc biệt là các chàng trai trẻ đất Hà Nội. Sở dĩ Hội Lim đã thu
hút được nhiều người, một phần do phong cảnh hữu tình của đồi Lim,
nhưng phần khác có lẽ vì sức quyến rũ mê hồn của các cô gái vùng
nầy. Tục ngữ đã chẳng có câu: “Trai Cầu Vồng, Yên Thế ; Gái Nội
Duệ, Cầu Lim” đó sao!
Và sau đây là một số hội Xuân mang những sắc thái phong tục kỳ lạ.
Đáng kể hơn cả là tục “rã đám” của làng La :
Bơi
Đăm, rước Giá, hội Thầy,
Vui thì vui vậy chẳng tày rã La!
Làng Đăm là tên thông tục của làng Tây Tựu xưa thuộc tỉnh Hà Đông.
Làng này có hội Tế Thần vào ngày mồng 9 tháng Ba. Trong ngày lễ
hội này, làng Đăm có lệ thi bởi trải thật linh đình.
Làng Giá là tên thông tục của làng Yên Sở thuộc huyện Đan Phượng, Hà
Đông. Đình làng này thờ Lý Nam Đế (544-548) làm Thành Hoàng. Trong lễ
hội đầu năm, dân làng Giá tổ chức cuộc rước Thần thật trọng thể.
Hội Thầy tức hội chùa Thầy.
Làng La tức làng La Khê thuộc phủ Hoai Đức, tỉnh Hà Đông. Theo thần
tích, Thành hoàng làng La Khê nguyên là một tay đạo chích lại dâm bôn,
chết nhằm giờ thiêng nên được dân làng thờ phụng. Làng vào đám hội Xuân
từ ngày mồng 6 đến ngày 12 tháng Giêng. Ngoài các cuộc tế lễ, rước
xách và các trò vui Xuân bình thường, làng lại có một tục lệ thật
kỳ lạ : tục “rã đám”. Vào ngày 12 tháng Giêng, làng tổ chức rước
thần Thành Hoàng vào lúc chạng vạng với sự tham dự đông
đủ của dân làng. Khi kiệu rước thần vào đình làng, đèn đuốc
được thắp lên để tế lễ. Cuộc tế vừa dứt, tất cả đèn đuốc trong
đình, ngoài sân đều tắt. Trong bóng đêm, mọi người không kể già trẻ
đều được tha hồ sờ soạng nhau, ôm ấp nhau. Đó là “hèm” diễn lại trò
của thần “ăn trộm dâm bôn” mà ! Họ “tự do” cho đến khi đèn đuốc được
thắp lên trở lại. Lệ “rã đám” của làng La chấm dứt!
Dân làng La vẫn tin đây là một biểu lộ mang tính cách tín ngưỡng. Họ
tin rằng, nếu làng không thực hiện lệ “rã đám” như thường lệ, trong
năm đó dân làng sẽ gặp nhiều điều không may mắn!
Dân làng Văn Trưng, tục gọi là làng Dưng thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Yên lại bày tỏ hình thức luyến ái bằng một cách khác với tục
“bắt chạch trong chum”. Dân gian đã có câu ca dao nói lên sự hấp dẫn
kỳ thú của tục lệ nầy:
Bỏ
con bỏ cháu,
Không ai bỏ hội mồng sáu chợ Dưng!
Xưa làng Văn Trưng có một ngôi chợ thật lớn, mỗi tháng họp sáu phiên
thu hút đông đảo dân chúng quanh vùng, tục gọi là chợ Dưng. Chợ Dưng
nằm gần đình làng. Chợ Dưng mở phiên đầu năm vào ngày mồng 6 tháng
Giêng. Đây cũng là ngày làng cho tổ chức hội Xuân với nhiều trò chơi
thú vị như leo cầu phao, chơi cờ bỏi, đốt pháo thi, đua thuyền trên
đầm Dưng, và đặc biệt nhất là tục “bắt chạch trong chum”.
Vào ngày hội, một dãy chum độ 5 hay 6 chiếc được đặt trước sân đình
làng. Miệng chum nhỏ vừa đủ cho một cánh tay thò vào trong. Nước
chứa hai phần chum. Trong chum thả một con cá chạch. Khách tham dự :
mỗi chum cho một đôi trai gái đã quen thân nhau từ trước. Các cặp này,
một tay phải ôm choàng lấy nhau, tay còn lại thay phiên nhau khoắng vào
chum để bắt chạch. Các chàng trai lợi dụng cơ hội ngàn vàng này để
sờ soạng nhũ hoa của các cô gái. Các cô không hề phản đối. Mà ngay
cả cha mẹ họ chứng kiến cuộc thi cũng khuyến khích họ tự do biểu
lộ tình cảm. Tục lệ mà ! Cặp nào bắt được chạch mang ra khỏi chum
trước thì thắng cuộc.
Làng Dưng ở Vĩnh Yên có tục thi “bắt chạch trong chum” thì làng Me ở
Sơn Tây có tục thi “đánh cá” ở ao làng. Đây là một hội Xuân cũng khá
hấp dẫn, đến nỗi dân địa phương đã hãnh diện so sánh trò vui của
làng Me với những hội Xuân nổi tiếng khắp một vùng đất Bắc :
Nhất hội Hương Tích,
Nhì hội Phủ Giầy,
Vui thì vui vậy chẳng tày đánh cá làng Me !
Làng Me là tên thông tục của làng Cung Thuận, huyện Tùng Thiện, tỉnh
Sơn Tây. Làng Cung Thuận thờ Tản Viên Sơn Thần. Hàng năm làng mở hội
Xuân từ ngày mồng 2 đến ngày mồng 10 tháng Hai với nhiều trò vui như
hát đúm – một thể loại dân ca của địa phương, tổ tôm điếm . . . và
đặc biệt nhất là tục “đánh cá” được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng
Hai.
Đình làng có một cái ao thật lớn được thả các loài cá như: trôi,
mè, trắm, chép. Suốt năm không ai được đánh bắt cá ở ao làng. Để
rồi vào sáng sớm ngày mồng 4 tháng Hai, hàng trăm trai tráng trong
làng với nơm, vó trong tay đứng chực sẵn quanh ao. Sau lưng họ là
người nhà và dân chúng quanh vùng đứng xem. Hồi trống báo hiệu cuộc
thi bắt đầu vừa dứt, tất cả trai tráng dự thi nhảy ào xuống ao thi
nhau đánh bắt cá. Tiếng nơm, vó khuấy trong nước, tiếng reo mùng của
kẻ bắt được cá hòa lẫn với tiếng reo hò cổ vũ của khách đi xem
vang dậy cả một góc trời. Sau nửa buổi, một tràng pháo nổ giòn báo
hiệu cuộc thi chấm dứt. Tất cả cá bắt được đem nộp cho làng. Ai
nhiều cá được thưởng. Ai ít cá bị phạt. Người bị phạt phải nhận
cá của làng đem nướng để tế Thần. Lễ xong, số cá còn lại
được đem chia đều cho tất cả các gia đình trong làng.
Làng Me có tục thi đánh cá ở ao làng rồi lấy cá chia cho dân làng
thì làng Sơn Đồng ở Hà Đông lại có tục dùng lễ vật cúng Thần để
biếu cho các làng lân cận:
Sơn
Đồng có tục “múa mo”,
Bánh dầy, bánh cuốn đem cho các làng.
Hàng năm làng Sơn Đồng thường tổ chức hội Xuân thật linh đình vào
ngày mồng 6 tháng Hai. Trong các lễ vật dùng để cúng Thần phải có
bánh dầy và bánh cuốn. Sau khi tế Thần xong, bánh dầy và bánh cuốn
được đem biếu cho các làng lân cận để cầu mong năm sau làm ăn sung túc
hơn. Ngoài tục lệ biếu xén này, làng còn có tục “múa mo” vào ngày
Hội. Đây là một tục lệ mang màu sắc tín ngưỡng: câu mong sự sinh
sản. “Múa mo” chỉ dành riêng cho trai chưa vợ, gái chưa chồng. Trai cầm
kiếm vót bằng tre được sơn son. Gái cầm bông cũng được vót bằng tre
tạo xơ thành 4 tầng nhuộm màu xanh, đỏ, tím, vàng. Họ vừa múa, vừa
hát theo điệu “chầu văn” với ý nguyện cầu mong tình duyên và sự sinh
sôi sung mãn.
Ngày xưa, vào những năm trời làm hạn hán, ở Triều đình cũng như
trong dân gian đều tổ chức lễ “đảo vũ” (cầu mưa) thật trọng thể để
cầu xin trời mưa.
Làng Diềm ở Bắc Ninh tổ chức hội Xuân vào ngày Rằm tháng Giêng tại
đình làng Diềm. Cạnh đình có một cái miếu thờ Vua Bà, một nhân vật
huyền thoại được dân làng Diềm rất sùng bái. Vào ngày hội, ban ngày
tổ chức các trò chơi, đặc biệt là trò chơi cướp quả cầu nước, ban
đêm hát “quan họ” ngay ở sân đình làng. Thế nhưng, vào những năm hạn
hán, cần phải làm lễ “đảo vũ” để cầu trời mưa thì hội “quan
họ” lại được tổ chức ở miếu thờ Vua Bà thay vì ở đình làng
với lời hát như sau :
Trước đền có một cây đa,
Vương mẫu hạ giới thực bà chúa Tiên.
Trăm năm hương hỏa còn truyền,
Dân vì hạn hán mở đền cầu mưa . . .
Ý niệm về Quê Cha Đất Tổ vẫn hằng in sâu trong tâm khảm của con dân
đất Việt.
Xưa dân 13 trại ở kinh đô Thăng Long có lệ trở về quê cũ là làng Lệ
Mật để mở hội Xuân :
Đợi ngày hăm ba tháng Ba
Dân Trại ta vượt Nhị Hà thăm quê.
Kinh quán, cựu quán đề huề,
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây.
Lệ Mật xưa là một ngôi làng nhỏ bé nằm xa về phía tả ngạn sông
Hồng (còn được gọi là sông Nhị). Theo thần tích đình làng Lệ Mật
thì vào thời nhà Lý (1010-1225) có một chàng trai họ Hoàng người
làng Lệ Mật đã có công trạng cứu một nàng công chúa khỏi bị chết
đuối trên sông Thiên Đức tức sông Đuống. Để đền công cho chàng trai,
nhà vua muốn ban chức tước cùng ngọc ngà châu báu cho chàng. Thế
nhưng, chàng đã khéo léo từ chối mọi sự đền ơn hậu hĩnh cho cá nhân
chàng, và chàng chỉ xin cho dân làng Lệ Mật được đến khai khẩn vùng
đất bỏ hoang ở phía tây kinh đô Thăng Long và lập ra 13 trại. Dân 13
trại luôn nghĩ là mình có 2 quê hương: một ở Lệ Mật là cựu
quán và một ở Thang Long là kinh quán.
Hàng năm, đến ngày 23 tháng Ba là ngày húy kị của vị Thần Hoàng họ
Hoàng, dân kinh quán lại vê cựu quán Lệ Mật để làm giỗ vị ân nhân
họ Hoàng đồng thời mở hội Xuân thật tưng bừng với dân làng Lệ Mật.
Tương truyền vào ngày này, cá ở Hồ Tây kinh đô Thăng Long đã nương theo
mây bay về đầy giếng nước ở đình làng Lệ Mật (!).
Lễ Hội Mùa Xuân là dịp để cho dân làng có cơ hội nghỉ ngơi vui chơi
sau những tháng ngày làm lụng vất vả :
Bao
giờ cho đến tháng Hai,
Cho làng vào đám, cho ai xem chèo.
Lễ Hội Mùa Xuân là dịp để cho dân làng tỏ lòng tôn kính và đặt
niềm tin tưởng vào các đấng thần linh mà làng đã thờ phụng với
những điều ước ao tốt đẹp:
Làng
ta mở hội vui mừng,
Chuông kêu, trống gióng vang lừng đôi bên.
Long ngai Thánh ngự ở trên,
Tả văn, hữu võ, bốn bên rồng chầu.
Sinh ra nam tử công hầu,
Sinh ra con gái vào chầu thánh quân.
Lễ hội mùa Xuân cũng còn là dịp để trai gái bộc lộ niềm khát khao
luyến ái tự do, không bị ràng buộc bởi những lễ nghi phiền toái của
Nho Giáo:
Ăn chơi cho hết tháng Hai,
Cho làng đóng đám, cho trai dọn đình.
Trong thì chiêng trống rập rình,
Ngoài thì trai gái trự tình cùng nhau.
Trên đây là một số Lễ Hội Mùa Xuân được nhắc đến qua một số ca dao
mà chúng tôi sưu tầm được. Những lê hội này phần lớn đã trở thành
dĩ vãng từ những năm cuối cùng của cuộc Thế Chiến Thứ hai
(1939-1945). Có nhiều lễ hội đã biến mất không biết từ bao giờ
và chỉ còn ghi lại trong sách vở cũ hoặc chỉ còn lưu lại trong trí
nhớ dân gian qua mấy vần ca dao ngắn ngủi.
Ngày nay, dù ở rải rác khắp thế giới, người Việt Nam chúng ta vẫn
tổ chức Lễ Hội Mùa Xuân, thực chất là những hội chợ Tết, không còn
những trò vui Xuân mang sắc thái địa phương làng xã như xưa nữa.
Có một diều may mắn là chúng ta vẫn còn giữ được ngày
Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày Giỗ Trận Đống Đa, ngày Giỗ Hai Bà Trưng . . .
dù rằng những lễ hội này chỉ được tổ chức một cách hạn chế về
khung cảnh cũng như nhân sự.
Ghi chú:
(1) Toan Oánh – Hội Hè Đình Đám – quyển Hạ, trang
13.
(2) Đào Duy Anh – Việt Nam Văn Hóa Sử Cương trang
132.
(3) Nguyễn Đổng
Chi – Việt Nam Cổ Văn Học Sử – trang 65.
(4) Phan Kế Bính – Việt Nam Phong Tục – trang 60
(5) Đào Duy Anh – sđd – trang 207.
(6) Lê
Minh Quốc – Các vị tổ ngành nghề Việt Nam – trang 35
(7) Trần Vinh – Tín Ngưỡng Thờ Cúng Các Danh Nhân
Anh Hùng Của Ngưỡi Việt Nam Ngày Trước – Thế Kỷ 21 số 64/ 1994.
(8) Lưu Văn Vịnh – Cơ Bút Đền Sòng – Khởi Hành số
23/1998.
(9) Toan Oánh – sđd trang 379.
(10) Trần Lê Văn – Văn Hóa, Giai Phẩm Tết Mậu Dần
1998.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét